Subscribe

RSS Feed (xml)

Powered By

Skin Design:
Free Blogger Skins

Powered by Blogger

Thứ Hai, 24 tháng 3, 2008

Biến Gmail thành ổ cứng để lưu file

Bạn đang sở hữu một chiếc máy tính cùng một đường kết nối Internet. Bạn muốn tiết kiệm dung lượng lưu trữ trên ổ cứng của mình? Vậy thì hãy thực hiện theo những hướng dẫn của bài viết sau để biến tài khỏan Gmail thành một phân vùng ổ cứng.


Như bạn đã biết, Gmail là dịch vu email miễn phí của Google, cung cấp cho bạn đến gần 6,5 GB dung lượng sử dụng để chứa email, và dung lượng này vẫn tiếp tục tăng hàng ngày . Với chứng ấy dung lượng chỉ với mục đích nhận và gửi email thì sẽ không khó mà dùng hết. Vậy bạn nghĩ sao nếu sử dụng dung lượng trống của nó để biến hộp thư Gmail thành một phân vùng ổ đĩa trên máy tính của bạn, có khả năng lưu trữ file như các phân vùng ổ đĩa bình thường trên ổ cứng ? Bài viết sau đây sẽ hướng dẫn cách thức để bạn thực hiện điều đó.

Các bước thiết lập hộp thư Gmail:

Để có thể thực hiện được điều này, lẽ dĩ nhiên là bạn cần đến một tài khoản Gmail. Nếu bạn chưa có một hộp thư Gmail, bạn có thể tự tạo cho mình một hộp thư tại địa chỉ http://gmail.com.

Bạn cần lưu ý điều này, để sử dụng hộp thư Gmail làm phân vùng ổ đĩa để lưu trữ file, thì những file được lưu trữ trên đó sẽ được chứa trong Inbox, do đó, nếu bạn có dự định sẽ lưu trữ nhiều file trên này, bạn có thể sẽ làm xáo trộn những email được chứa trong này. Để giúp cho việc lưu trữ file có tổ chức và sắp xếp có trật tự, bạn có thể thiết lập để những file này sẽ được chứa trong Archive thay vì chứa trong Inbox. Điều này sẽ giúp cho Inbox của bạn không hề bị xáo trộn.

Sau đây là cách thức để thiết lập các file sẽ được chứa trong Archive thay vì trong Inbox:

- Đầu tiên, bạn đăng nhập vào tài khỏan Gmail tại địa chỉ http://gmail.com

- Tiếp theo, bạn click vào link Settings ở góc trên bên phải. Tại đây, bạn tiếp tục click vào link Filters.Mục đích của việc này là tạo bộ lọc, sao cho những file bạn muốn chứa trên Gmail sẽ được lọc khỏi Inbox và chuyển thẳng vào Archive.

- Tại Filters, bạn click tiếp vào link Creat a new filter. Tại đây, bạn điền GMAILFS vào hộp thoại Subject và nhấn nút Next Step.

- Tiếp theo đánh dấu vào hộp thoại Skip the Inbox (Archive it) và nhấn nút Creat Filter.

Bây giờ, khi bạn sử dụng Gmail làm phân vùng ổ đĩa để chứa file, nó sẽ tự động bỏ qua Inbox và chứa đó trong Archive.

Cài đặt phần mềm GMailDrive:

Để có thể biến Gmail thành một phần vùng ổ đĩa thì cần phải có sự trợ giúp của GmailDrive. Chương trình này sẽ tạo một liên kết trục tiếp từ máy tính của bạn đến tài khoản Gmail. Lúc đó, bạn có thể truy cập trực tiếp tài khỏan Gmail của mình thông qua My Computer hoặc Windows Explorer, điền thông tin đăng nhập và bắt đầu lưu trữ file vào trong đó tương tự như tiến hành trên các phân vùng ổ đĩa khác.

Đầu tiên, bạn download và cài đặt chương trình hoàn toàn miễn phí tại : http://www.viksoe.dk/code/gmail.htm

Sau khi cài đặt chương trình thành công, bạn mở cửa sổ My Computer và sẽ thấy phân vùng ổ đĩa mới mang tên Gmail Drive.

Sử dụng Gmail Driver để chứa files : Bây giờ, sau khi chương trình đã được cài đặt, bạn có thể dễ dàng lưu trữ file vào phân vùng ổ đĩa Gmail bằng cách đơn giản là click chuột phải vào file và chọn Send to -> Gmail Drive, hoặc bạn cũng có thể copy và paste trực tiếp lên ổ đĩa Gmail. Khi file của bạn bắt đầu đưa vào ổ đĩa Gmail, một hộp thoại biểu diễn quá trình upload sẽ hiển thị cho bạn thấy.

Còn trong trường hợp bạn muốn xóa một file từ phân vùng ổ đĩa này, bạn có thể click chuột phải vào file và chọn delete, hoặc đơn giản là click chuột vào file đó và nhấn phím delete. Nói tóm lại, những thao tác trên file đối với phân vùng này hoàn toàn giống với những phân vùng bình thường trên ổ cứng. Hình dưới sẽ cho bạn thấy điều đó.

Như bạn thấy, bạn có thể chứa file với những dung lượng và các định dạng file khác nhau, và bạn cũng có thể dễ dàng truy cập file trực tiếp từ đây.

Một vài chương trình khác tương tự GmailDrive:

Mặc dù về cơ bản thì Gmail Drive là lựa chọn tốt nhất để biến Gmail thành một phân vùng ổ đĩa mới. Tuy nhiên nó lại có một nhược điểm, đó là chỉ cho phép bạn đưa vào ổ đĩa Gmail một file có dung lượng tối đa 15MB. Điều này có nghĩa là nếu như bạn muốn chứa 1 file có dung lượng lớn hơn 15MB vào phân vùng ổ đĩa Gmail, bạn sẽ cần đến sự trợ giúp của 1 trong các chương trình dưới đây :

RoamDrive: Chương trình đầu tiên có thể kể đến đó là RoamDrive. RoamDrive là một ứng dụng có tính năng tương tự Gmail Drive, sẽ tạo cho bạn một phân vùng ổ cứng truy cập trực tiếp vào tài khỏan Gmail để bạn lưu trữ file. Nó thậm chí còn nhỉnh hơn so với Gmail Drive là không giới hạn dung lượng file có thể lưu trữ. Điều này là tối cần thiết đối với những ai muốn khai thác tối đa dung lượng sử dụng của Gmail. Download bản dùng thử của chương trình tại : http://www.roamdrive.com/download.html

Gspace: Nếu bạn đang sử dụng Firefox thì bạn có thể cài đặt thêm cho mình một extension có tên gọi là Gspace, với tính năng tương tự như 2 phần mềm trên. Cũng tuơng tự như RoamDrive, Gspace đã vượt qua được giới hạn 15MB đối với một file được phép lưu trữ. Download Gspace tại : http://www.getgspace.com/download.html

Bây giờ, bạn đã có đầy đủ những gì mình cần. Với 3 phần mềm được giới thiệu trên, bạn có thể có được cho mình sự lựa chọn tốt : miễn phí, không giới hạn dung lượng, hoặc dành riêng cho Firefox. Và bạn có thể yên tâm một điều, những file được lưu trữ trên Gmail sẽ hoàn toàn được an toàn cho đến khi chính tay bạn xóa chúng.

Hiệu chỉnh bản đồ Google Maps trên website cá nhân

Phần hướng dẫn "Đưa bản đồ Google Maps lên website cá nhân" đã giúp bạn đưa cả bản đồ trực tuyến từ Google Maps lên website của mình. Trong bài này, bạn sẽ có thể thêm các chức năng nhỏ để bản đồ "của tui" được chuyên nghiệp hơn.

Thêm tin nhắn cho bản đồ

Những thông tin cơ bản đã được đưa vào bản đồ Google Maps trong lần trước, nếu muốn bổ sung thêm thông tin về vị trí thì đưa dòng mã sau vào bên dưới map.setCenter.

map.openInfoWindow(map.getCenter(), document.createTextNode(“Xin chao, chao mung den New4Hack.com, vi tri hien tai la Vietnam”));

Sau khi nhập dòng mã trên vào bên dưới map.setCenter, một "bong bóng" tin nhắn sẽ hiển thị trên bản đồ với dòng chữ "Xin chao, chao mung den New4Hack.com, vi tri hien tai la Vietnam". Bạn có thể tự sửa chữa phần chữ thay thế trong dấu ngoặc kép để mô tả ngắn về vị trí khởi điểm của bản đồ. Dòng tin nhắn sẽ hiển thị ở giữa bản đồ.


Hiển thị tin nhắn khi khởi động bản đồ


Bản đồ vệ tinh

Google Maps có thể xem được theo hai dạng: bản đồ thường và bản đồ với các hình ảnh từ vệ tinh. Để thay đổi cách hiển thị bản đồ của mình từ loại thông thường sang vệ tinh, tiếp tục bổ sung đoạn mã sau ở bên dưới phần code ở trên: map.setMapType(G_SATELLITE_MAP); .Ta cũng có thể đổi G_SATELLITE_MAP thành G_HYBRID_MAP để đổi cơ chế hiển thị bản đồ "lai" tùy ý.


Thay đổi chế độ hiển thị bản đồ thành những hình ảnh vệ tinh


Phóng to, thu nhỏ bản đồ

Đây là chức năng không thể thiếu khi đưa Google Maps lên website của bạn. Thêm chức năng này vào bản đồ cũng không khó, chỉ việc thêm dòng mã sau: map.addControl(new GLargeMapControl()); (bao gồm cả dấu chấm phẩy) hoặc đổi thành GsmallZoomControl để thêm nút như hình minh họa.


Phóng to thu nhỏ, xem chi tiết các cạnh bên


Ngoài ra, các webmaster muốn một bản đồ cài đặt nhanh chóng và hiệu quả hơn có thể tham khảo phần Google Mapplets API thay vì Google Maps API. Nó giúp tạo các ứng dụng tự cài đặt trên website Google Maps. Khách truy cập vào website chính của Google Maps sẽ có thể thấy được nội dung mà bạn đã tạo và cài đặt.

Truy cập vào Google Mapplets API, chọn cài đặt Developer Mapplet. Phần Developer Mapplet sẽ xuất hiện trong thẻ My Maps khi bạn truy cập vào maps.google.com.


Khai thác Google Mapplets API để đưa bản đồ lên website chuyên nghiệp hơn


Tham khảo tiếp phần hướng dẫn lập trình XML để tùy biến tương tự như đã "xào nấu" với Google Maps API. Mapplet của bạn phải có mặt trên máy chủ công cộng để có thể xem được, đặt liên kết maps.google.com/ig/add?synd=mpl& pid=mpl&moduleurl= lên website và khách truy cập khi nhấn vào liên kết này sẽ được yêu cầu cài đặt Mapplet.

Một chút thời gian tham khảo và thực hiện, bạn đã có được một bản đồ trực tuyến khá "pro" trên website của mình. Bạn có thể tiếp tục tìm hiểu các hướng dẫn để bổ sung thêm những chức năng khác cho bản đồ trực tuyến càng chuyên nghiệp hơn.

Tăng tốc toàn diện cho Firefox

Firefox lúc hoạt động cũng như khi ở trạng thái minimize đều chiếm dung lượng bộ nhớ rất nhiều. Tuy nhiên nếu bạn biết một số tính năng ẩn của nó, sẽ cải thiện được đáng kể tốc độ của phần mềm này.

1. Giảm nhiệt bộ nhớ

Firefox lúc hoạt động cũng như khi ở trạng thái minimize đều chiếm dung lượng bộ nhớ rất nhiều. Nhưng nó có một đặc điểm ít được biết đến là cho phép Windows sử dụng lại bộ nhớ khi nó không hoạt động, hay nói cách khác là Windows sẽ lấy lại RAM khi Firefox ở trạng thái minimize. Tuy nhiên tính năng này bình thường không hoạt động, để kích hoạt bạn mở Firefox, gõ lệnh about:config vào trong khung Address và bấm Enter.

Sau đó bấm chuột lên khoảng trống ở bất kỳ đâu trong cửa sổ mở ra, bạn chọn New > Boolean. Tiếp theo điền đoạn mã config.trim_on_minimize, bấm OK rồi chọn giá trị cho nó là true. Bấm OK lần nữa để xác định lại việc tạo giá trị mới cho Firefox.

Bây giờ khởi động lại Firefox bạn sẽ thấy nó không lấy nhiều RAM nữa khi bạn thu nhỏ cửa sổ trình duyệt, dung lượng RAM sử dụng sẽ giảm đi hẳn.

2. Tinh chỉnh Cache

Firefox thường lưu các cache của mỗi trang web vào bộ nhớ của nó,mục đích là để bạn có thể mở nhanh trang web trong lần đăng nhập sau hay phục hồi lại trang cũ khi bạn bấm các phím Back / Forward trong trình duyệt. Theo mặc định, giá trị cache được thành lập để có thể lưu lại trong bộ nhớ của Firefox, một cache có thể đạt dung lượng 4MB hoặc tăng lên tới 8MB. Nếu bạn duyệt nhiều trang web thì máy sẽ cần dung lượng RAM rất lớn - "mà lượng tài nguyên này chỉ dùng duy nhất cho 2 phím Back / Forward" , đó là một điều hết sức lãng phí.

Để tăng tốc Firefox bằng cách hạ cache của nó xuống, bạn gõ lệnh about:config vào trong khung Address để mở cửa sổ điều chỉnh. Trong khung Filter, gõ browser.sessionhistory.max_total_viewers rồi bấm Enter. Sau đó bạn bấm đôi lên giá trị Value rồi đổi sang 0.

Tiếp tục với giá trị với giá trị browser.cache.memory.enable, bấm đôi lên chữ true để đổi nó sang giá trị false. Sau đó bấm chuột lên khoảng trắng bất kỳ đâu trong cửa sổ mới mở ra, chon New > Boolean, điền đoạn mã browser.cache.memory.capacity. Bấm OK rồi chọn giá trị cho nó là true. Bấm OK lần nữa để xác nhận lại việc tạo giá trị mới cho Firefox.

3. Tăng tốc load web

Tốc độ load một trang web ngoài việc phụ thuộc đường truyền còn phụ thuộc vào trình duyệt, vì vậy mới có nhưng trình duyệt nhanh như tên bắn cỡ K-Ninja hay rùa bò như SpaceTime 3D. Trong trình duyệt, ngoài vấn đề với các cách hiển thị hình ảnh, âm thanh và các hiệu ứng còn có cách mà trình duyệt tương tác với máy chủ nữa, và đây là cái khiến cho cả trăm trình duyệt không cái nào giống cái nào.

Firefox đôi lúc nhanh không thể tưởng tượng nổi nhưng cũng có lúc nó chậm đến dễ sợ, đơn giản chỉ vì gặp những trang web dễ tính thì nó load rất nhanh còn với những trang khó tính, đòi hỏi nhiều cái thì nó lại load rất chậm. Các cách dưới đây sẽ giúp Firefox của bạn mở một trang web nhanh hơn bằng cách tăng các kết nối với trang web đó.

- Giảm thời gian chờ: bấm chuột phải lên khoảng trống, chọn New > Integer, tạo một filter mới với nội dung là nglayout.initialpaint.delay và đặt value cho nó là 50. Lựa chọn này sẽ cho phép Firefox load ngay website mà không cần chờ 0,25 giây như trước nữa. Vào New > Boolean và tạo filter mới tên là content.notify.ontimer sau đó chọn value là true. Tạo một Integer có tên content.notify.interval và đặt giá trị là 1000000.

- Tăng lượng data tải về: bình thường thì Firefox sẽ tải trang web về theo từng gói dữ liệu. Bạn hãy tăng tốc load web bằng cách tăng dung lượng gói data tải về. Tạo một Integer với tên content.max.tokenizing.time và đặt value là 9000000. Sau đó tại thêm một Boolean với tên content.interrupt.parsing và đặt giá trị cho nó là true.

- Giảm thời gian tương tác với người dùng: tức là khoảng thời gian Firefox hiển thị các thông tin load web cho bạn, nếu giảm thời gian này xuống, tốc độ mở trang web sẽ nhanh hơn. Tạo một Integer tên content.switch.threshold và đặt value là 3000000.

4. Tăng tốc server

Để load nhanh một trang web bạn cần phải tăng tốc kết nối Firefox với trang web lên con số cao nhất có thể được. Theo mặc định, con số kết nối này của Firefox là 24, tuy nhiên chúng ta có thể tăng lên mức tối đa mà Firefox cho phép để việc mở trang web nhanh nhất.

Trong khung Filter, bạn gõ từ khóa network.http.max-connections, sau đó bạn tăng value lên 64. Tiếp tục tìm network.http.max-persistent-connections-per-server và network.http.max-persistent-connections-per-proxy rồi đổi giá trị của nó lên thành 8.

5. Giảm thời gian tương tác

Khi Firefox load một trang web, nó thường tạo ra một loạt các liên kết để tải dữ liệu từ trang web đó và trang web của bạn sẽ được tải về bằng nhiều đường truyền, mỗi đường truyền thường được đặt một giới hạn thời gian tương tác. Vì vậy muốn Firefox nhanh hơn, bạn có thể giảm thời gian tương tác này xuống.

Tìm từ khóa network.http.request.max-start-delay rồi hạ giá trị của nó từ 10 còn xuống 0. Tạo tiếp một Integer với tên network.http.pipelining.maxrequests và đặt value là 128. Cuối cùng tìm từ khóa network.http.proxy-pipelining và networl.hppt.pipelining rồi đổi giá trị thành true.

6. Xóa các config

Theo mặc định, khi tạo một config cho Firefox thì bạn không thể xóa nó được. Để khắc phục, nếu có một config nào mà bạn lỡ tay tạo sai thì để xóa nó đi, bạn bấm chuột phải lên nó rồi chọn Reset. Khởi động lại Firefox thì config đó sẽ bị xóa

Đưa bản đồ Google Map lên website cá nhân

Sở hữu một công cụ tìm kiếm địa điểm, bản đồ trực tuyến như Google Map trên website cá nhân là một điều rất thú vị, mang lại nhiều thuận tiện cho khách truy cập. Để đưa Google Map lên website cá nhân, bạn không cần phải có khả năng lập trình "siêu hạng", chỉ cần vài bước đơn giản và một ít kiến thức về HTML là có thể thực hiện điều này.

Yếu tố cần thiết để đưa Google Map lên website hay blog cá nhân là khai thác giao diện lập trình ứng dụng API (Application Programming Interface) của Google Map được Google cung cấp miễn phí cho người dùng nhưng với những giới hạn nhất định.

Nếu bạn muốn sử dụng một bản đồ thương mại hoặc chỉ khai thác trên một website cá nhân thì có thể đăng ký sử dụng thử 30 ngày dịch vụ Google Map Enterprise. Bản đồ sẽ có thể xem được nhưng nó nằm ở phía sau một tường lửa (firewall) hay với việc đăng ký tài khoản đăng nhập có phí. Dịch vụ Enterprise cũng cung cấp thêm những tính năng mở rộng như quan hệ khách hàng và hỗ trợ về marketing.

Trong phần bài viết này chỉ hướng dẫn bạn sử dụng phiên bản miễn phí với hai chức năng chính là phóng to thu nhỏ bản đồ (zoom) hoặc tìm địa điểm. Cửa sổ thông tin của bản đồ có các thành phần như những cập nhật, điểm đánh dấu, đường kẻ định tuyến để chỉ dẫn...

Bước 1: đăng ký sử dụng khóa API (API key) tại đây. Tuy nhiên, trước khi bạn đăng ký và nhận khóa API, bạn cần đăng nhập vào tài khoản Google của mình. Sau khi đăng nhập, nhấn vào "Sign up for a Google Maps API key", điền tên miền website cá nhân của bạn vào và nhấn "Generate API key". Hệ thống sẽ tạo một khóa với đoạn mã khá dài để bạn có thể copy và dán vào trong mã HTML trên trang web của mình.

Lưu ý là khóa API này có hiệu lực với một thư mục đơn trên máy chủ của bạn. Bạn có thể sử dụng nó để nhúng một bản đồ Google Map vào bất kỳ trang nào thuộc tên miền đã đăng ký mà không có giới hạn về số lượng xem trang mỗi ngày.


Hệ thống cung cấp khóa API là một đoạn mã, bạn cần sao lưu lại để dùng về sau.


Bước 2: copy đoạn mã ví dụ vào trong một file văn bản, tốt nhất bạn nên dùng notepad để lưu. Khi tham khảo, bạn sẽ thấy hầu hết những thông tin quan trọng nằm trong thẻ và một đoạn mã chứa bản đồ trong phần thẻ của trang. Toàn bộ đoạn mã HTML là một trang bản đồ có thể click và kéo trên giao diện. Nếu bạn không rành về mã HTML thì có thể tham khảo phần hướng dẫn cơ bản của Google tại đây với nhiều cách thức đưa bản đồ vào web cá nhân sau khi có khóa API.


Trang bản đồ cơ bản đã hình thành sau khi tạo khóa API


Bước 3: ở bước này ta sẽ bắt đầu tiến hành hiệu chỉnh một chút cho bản đồ có dấu ấn riêng của mình. Đầu tiên bạn định vị lại vị trí khởi đầu cho bản đồ ở phần map.setCenter trong đoạn mã ví dụ được cung cấp ở bước trên. Chỉ cần thay đổi tọa độ sau GLatLng để phù hợp với kinh độ, vĩ độ của điểm khởi đầu mà bạn muốn thiết lập lại.


Bản đồ Google Map đã được tích hợp vào trang web cá nhân


Cuối cùng, cho đoạn mã trên vào một chương trình thiết kế website như Dreamweaver, lưu ý bổ sung script vào thẻ và làm theo các chỉ dẫn để tải bản đồ trong phần thẻ .

Theo hướng dẫn trên cùng với một chút nghiên cứu thêm, bạn có thể bổ sung công cụ tìm kiếm Google Local, tích hợp các điều khiển tùy chọn hay những chỉ dẫn lái xe vào website cá nhân của mình. Phần thủ thuật hiệu chỉnh thêm "hoa lá" cho bản đồ sẽ được hướng dẫn ở bài sau.

Giải pháp mới trong việc khôi phục dữ liệu và hệ điều hành

Bảo vệ dữ liệu và phục hồi hệ thống Windows một cách nhanh chóng. Đây chính là tính năng nổi bật của phiên bản mới Backup Exce 12 và Backup Exce System Recovery 8 vừa được ra đời.

Backup Exce 12, giải pháp mới về phục hồi dữ liệu
Phiên bản Symantec Backup Exec 12 dành cho các hệ điều hành Windows Servers, một chuẩn thị trường về bảo vệ dữ liệu trong Windows – từ máy chủ đến máy bàn – cho phép sao lưu dữ liệu từ đĩa cứng-đĩa cứng-băng từ, đồng thời cho phép phục hồi dữ liệu nhanh chóng và hiệu quả.

Backup Exec 12 được chứng nhận là có thể hỗ trợ tối ưu cho Microsoft Windows Server 2008, nâng cao khả năng phục hồi dạng mịn đối với dữ liệu ứng dụng trọng yếu, đồng thời mở rộng thêm bảo vệ cho nền tảng hệ thống mới.

Backup Exec 12 hiện tích hợp với các giải pháp hàng đầu của Symantec trên thị trường bao gồm hệ thống cảnh báo an ninh toàn cầu ThreatCon độc đáo, giải pháp Enterprise Vault giúp bảo vệ những bản lưu trữ email, và giải pháp Symantec Protection Network mới nhằm truy nhập kho dữ liệu lưu trữ ở một địa điểm khác. Backup Exec 12 cũng cho phép sao lưu và khôi phục nhanh hơn với môi trường Microsoft Exchange, SQL Server, Active Directory, SharePoint cũng như hỗ trợ các môi trường không phải Microsoft khác.

Backup Exec 12 cho các hệ thống Windows Server – phần mềm sao lưu và phục hồi dữ liệu đầu tiên có logo chứng nhận dành cho Windows Server 2008 – cho phép sao lưu và phục hồi dữ liệu từ đĩa cứng-đĩa cứng-băng từ hiệu quả, đã được kiểm chứng dành cho các môi trường hệ điều hành Windows.

Với khả năng bảo vệ dữ liệu tối ưu cho Microsoft Windows Server 2008, cùng với khả năng bảo vệ dữ liệu liên tục cho các máy chủ tệp tin, các máy trạm (workstations), máy chủ Microsoft Exchange và SQL, Backup Exec 12 giúp các tổ chức phục hồi dữ liệu một cách kịp thời tại 1 điểm cần khôi phục, đáp ứng được những yêu cầu khắt khe nhất về mục tiêu phục hồi dữ liệu.

Backup Exec 12 có thể khôi phục dữ liệu nhanh chóng sau một lần sao lưu với Công nghệ Khôi mịn (Granular Recovery Technology), giúp loại bỏ nhu cầu thực hiện sao lưu cả hộp thư để phục hồi những email của các cá nhân, đồng thời dễ dàng chỉ trong vài giây phục hồi các dữ liệu SharePoint, SharePoint Services, và dữ liệu Active Directory – từ các tài liệu cho đến các tài khoản người dùng.

Tính năng cách tân tích hợp với các sản phẩm hàng đầu thị trường khác của Symantec cũng giúp tăng cường hiệu quả hơn nữa khả năng bảo vệ dữ liệu.

Tích hợp với Symantec Enterprise Vault cho phép sao lưu và khôi phục nhanh, hiệu quả đối với các kho lưu trữ quan trọng, trong khi đó với Symantec Endpoint Protection sẽ cho phép sao lưu chủ động khi mức Báo động Internet ThreatCon tăng lên.


Tự động sao lưu báo động Internet ThreatCon tăng lên là tính năng
nổi bất của Backup Exec 12
Bên cạnh đó, tích hợp với dịch vụ Online Storage (lưu trữ trực tuyến) dành cho Backup Exec (một phần mềm Symantec Protection Network hoạt động kiểu cung cấp dịch vụ), giúp cung cấp khả năng truy nhập trên web an toàn, dễ quản lý tới các kho lưu trữ được đặt tại các trung tâm dữ liệu khác của Symantec.

Backup Exec System Recovery 8 phục hồi hệ điều hành chỉ trong ít phút.

Backup Exec System Recovery 8, phiên bản mới nhất trong giải pháp phục hồi hệ thống Windows nhanh và đầy đủ của Symantec – với tính năng phục hồi hệ thống cải tiến và bảo vệ dữ liệu từ xa linh hoạt, được tích hợp với những giải pháp quản lý hệ thống và an ninh của Symantec, cùng sự hỗ trợ cho Windows Server 2008.

Với bản Backup Exec System Recovery dùng đĩa cứng này, các tổ chức có thể phục hồi hệ thống bị mất hoặc gặp thảm họa chỉ trong vài phút, thậm chí ngay trong những môi trường ảo, phần cứng khác loại, hay tại những địa điểm từ xa, không cần kiểm soát.

Để tăng cường khả năng khôi phục dữ liệu sau sự cố của các tổ chức, bản Backup Exec System Recovery 8 này bao gồm cả khả năng bảo vệ dữ liệu từ xa linh hoạt, cho phép các nhà quản trị sao chép tự động những dữ liệu cần phục hồi tới một máy chủ từ xa sử dụng giao thức FTP, hoặc tới một thiết bị ổ cứng ngoại vi hay chia sẻ mạng.

Tính năng mới Lựa chọn phục hồi mịn(Granular Restore Option) giúp các tổ chức chỉ trong một vài phút có phục hồi các hộp thư, thư mục, thư điện tử, và dữ liệu đính kèm của Microsoft Exchange; các văn bản Microsoft SharePoint cá nhân và các file hoặc các thư mục cá nhân bằng một giao diện duy nhất.

Hơn nữa, Backup Exec System Recovery 8 cũng được tích hợp với Hệ thống cảnh báo an ninh toàn cầu ThreatCon của Symantec để giúp có thể sao lưu các bản khôi phục hệ thống ngay lập tức và tự động trong trường hợp mức độ cảnh báo Internet ThreatCon tăng cao.

Chỉ trong ít phút hệ điều hành sẽ được phục hồi nhờ công nghệ mới
của Backup Exec System Recovery 8
Việc tích hợp Backup Exec Recovery 8 với nền tảng quản lý Altiris giúp các nhà quản trị có thể kiểm soát những tác vụ sao lưu với chỉ một giao diện và cơ chế quen thuộc. Bên cạnh đó, Backup Exec System Recovery 8 giờ đây có thể liên kết một cách thông minh và hiệu quả tới các thiết bị lưu trữ USB ngoại vi, đồng thời thực hiện sao lưu tới thiết bị chỉ định, ngay cả nếu Windows thay đổi tên ổ đĩa của thiết bị.

Một điểm mới nữa ở Bản Backup Exec System Recovery 8 là tính năng hỗ trợ đối với Windows Server 2008, bao gồm công nghệ Restore Anyware (Sao lưu tới mọi đích) đối với môi trường phần cứng khác loại, và kiểu khôi phục từ vật lý tới ảo.

Bạn có thể tải dùng thử cả hai sản phẩm này tại website: www.symantec.com

Chiêm ngưỡng những vì sao trực tuyến với Google Sky

Google vừa phát triển thêm dịch vụ mới mang tên Google Sky giúp chúng ta quan sát các vì sao trực tuyến. Dịch vụ mới này hoàn toàn miễn phí, không yêu cầu người dùng phải tải bất cứ gì để cài đặt thêm mà chỉ đơn giản là truy cập vào địa chỉ http://www.google.com/sky.

Đó là bản đồ những ngôi sao được quan sát về đêm, hàng ngàn hình ảnh và những thông tin chi tiết chú thích cho các hình ảnh đó. Người dùng còn có thể dùng công cụ tìm kiếm để xem các hình ảnh mà viễn vọng kính Hubble ghi nhận được ngoài không gian vũ trụ. Khám phá lịch sử bản đồ các vì sao ngay trên trình duyệt. Theo thống kê của Google, hiện có đến 350 triệu người đang dùng dịch vụ Google Earth nên Google Sky cũng rất hứa hẹn.

Xóa những file “cứng đầu” trong Windows

Trong quá trình dùng máy tính, có những file vô dụng nhưng lại chứa dung lượng lớn trên ổ cứng nên bạn xóa chúng đi để tiết kiệm dung lượng. Tuy nhiên, có những file rất “cứng đầu” và không thể xóa đi theo cách thông thường. Bài viết sẽ giúp bạn khắc phục điều này.


Đôi khi, bạn xóa đi một file không cần thiết để giải phóng dung lượng trên ổ cứng, thì thay vì file đó sẽ bị biến mất, bạn lại nhận được một thông điệp thông báo rằng file đó không thể xóa như hình dưới đây






Trường hợp này thường xảy ra khi mà file bạn cần xóa đang chứa trên phân vùng ổ cứng với định dạng file system là NTFS, và lí do chính để bạn không xóa được những file này có thể là do file đang được sử dụng bởi một chương trình nào đó, hoặc những file liên quan đến file đó đang được sử dụng, hoặc cũng có thể là do lỗi phát sinh trong quá trình sao chép file lên ổ cứng.



Nếu trong trường hợp file không xóa được do nó đang được sử dụng, bạn chỉ cần tắt đi những chương trình đang sử dụng nó thì có thể xóa nó đi dễ dàng. Ngược lại, bạn không thể nào xóa file theo cách thông thường được. Thậm chí, nêu không biết cách, bạn cần phải format lại ổ cứng mới mong có thể xóa được nó đi. Tuy nhiên, format lại ổ cứng là một trong những điều tối kị mà người sử dụng máy tính có thể nghĩ đến. Do đó, bài viết sau đây sẽ hướng bạn những cách thức để xóa đi những file “cứng đầu” này.



Cách 1:



Đây là cách thức đơn giản nhất đối với những file ít “cứng đầu” nhất, đó là bạn khởi động lại hệ thống rồi xóa nó đi theo cách thông thường.



Cách 2:



Nếu cách 1 chưa đủ sức để xóa đi file bạn muốn xóa, bạn có thể thử làm theo cách thứ 2 này. Đó là bạn sẽ sử dụng lệnh xóa trong DOS.



Để làm được điều này, đầu tiên bạn mở cửa sổ DOS lên bằng cách click vào nút Start của Windows, chọn run, điền cmd vào hộp thoại và nhấn Enter.



Tiếp theo, cửa sổ Command Promt hiện ra, tại đây, bạn sử dụng các câu lệnh của DOS để chuyển đến thư mục chứa file cần xóa và sử dụng lệnh Del trong DOS để xóa file đó đi.








Cách 3:



Để sử dụng cách thứ 3, việc đầu tiên là bạn mở cửa sổ Command như trên đã hướng dẫn. Tiếp theo, bạn nhấn tổ hợp phím Ctrl – Alt – Delete để mở cửa sổ Task Manager. Tại cửa sổ Task Manager, bạn chọn thẻ Processes, và tìm đến process explorer.exe, click chuột phải vào đây và chọn End Process.








Sau khi kết thúc process này, màn hình của bạn sẽ biến mất hết toàn bộ, ngoại trừ cửa sổ Command Promt đã được mở trước đó. Bây giờ, hãy dùng lệnh DEL trong DOS để xóa đi file bạn cần xóa.



Sau khi thực hiện lệnh Del, bạn điền tiếp câu lệnh explorer trong cửa sổ Command Promt để Windows bắt đầu hoạt động trở lại.Hoặc nếu trong trường hợp sau khi thực hiện lệnh Del, bạn lỡ tay đóng mất cửa sổ Command Promt, thì bạn bấm lại tổ hợp phím Ctrl – Alt – Delete để mở cửa sổ Task Manager. Tại cửa sổ Task Manager, bạn chọn File -> New Task (Run) và điền explorer.








Tuy nhiên, để làm được điều này, bạn cần phải có những kiến thức cơ bản về DOS cũng như những câu lệnh của nó. Do đó, nếu như bạn không có được những kiến thức này, bạn hãy thử sử dụng những cách thức dưới đây



Cách 4:



Nếu bạn không thể nào xóa đi một file, bạn hãy thử xóa đi folder đang chứa nó. Nếu vẫn không được, bạn hãy thử cách sau : Chẳng hạn, ta gọi thư mục đang chứa file bạn cần xóa là A, và thư mục A này lại nằm trong một thư mục B. Việc của bạn là hãy thử xóa cả thư mục B (đang chứa thư mục A và file đang cần xóa). Đôi khi chúng sẽ có tác dụng. Tuy nhiên nên nhớ rằng, những dữ liệu cần thiết đang chứa trong A và B phải được chuyển qua những vị trí khác trước khi xóa cả thư mục.



Cách 5:



Nếu những cách trên vẫn chưa đủ sức xóa đi file bạn cần xóa. Bạn hãy khởi động hệ thống trong chế độ Safe Mode và xóa file đó đi. Để khởi động hệ thống trong chế độ Safe Mode, ngay sau khi bấm công tắc thùng máy, bạn nhấp nút F8, một danh sách những tùy chọn sẽ được hiện ra để bạn chọn lựa, bạn hãy sử dụng nút mũi tên lên xuống trên bàn phím để chọn đế mục Safe Mode và nhấn Enter để hệ thống bắt đầu khởi động dưới chế độ Safe Mode.



Cách 6:



Nếu máy tính của bạn được cài đặt cùng lúc 2 hệ điều hành khác nhau, hãy khởi động lại hệ thống và chọn lựa một hệ điều hành khác hệ điều hành hiện tại để xóa đi file mà không thể xóa ở hệ điều hành hiện tại. Tuy nhiên, nếu máy tính của bạn chỉ được cài đặt một hệ điều hành thì cách thức này có thể bỏ qua.



Cách 7:



Nếu bạn đã từng tháo và lắp những thiết bị trong máy tính của mình, vậy thì hãy tháo ổ cứng và mang sang một máy khác để xóa đi file mà bạn cần xóa. Còn trong trường hợp bạn chưa từng tháo những thiết bị trong máy tính, bạn cũng không cần quan tâm đến cách này.



Cách 8:



Nếu những cách thức trên vẫn chưa đủ để xóa đi file mà bạn cần xóa, thì nó thực sự là rất cứng đầu. Cách thức sau đây sẽ hướng dẫn bạn tạo ra một “bản sao” phân vùng ổ cứng mà nó đang chứa file bạn đang cần xóa. Mọi thao tác trên phần vùng ảo này sẽ không gặp bất kỳ một khó khăn và trở ngại nào, và tác dụng của những thao tác này cũng sẽ có kết quả đối với phân vùng chính. Nói cách khác, bạn có thể xóa đi file mà bạn cần xóa trong phân vùng ảo mà bạn tạo ra, nhưng ngay trong phân vùng chính, file này cũng sẽ bị xóa.



Để tạo “bản sao” cho phân vùng ổ cứng, bạn thực hiện theo các bước sau :

- Đầu tiên, click Start, chọn run, điền cmd vào hộp thoại và nhấn Enter.

- Cửa sổ Command Promt sẽ được hiện ra. Tại đây, bạn điền câu lệnh subst X: “C:\” và nhấn Enter. Trong ví dụ này, phân vùng C: chính là nơi chứa file mà bạn cần xóa và bản sao của C sẽ là một phân vùng mới mang tên X.






Bây giờ, bạn hãy thử mở cửa sổ My Computer thì sẽ thấy xuất hiện biểu tượng của một phân vùng ổ cứng mới mang tên X: với thông tin hòan toàn giống với phân vùng ổ C:









Bây giờ, bạn có thể vào phân vùng X vừa mới tạo ra để tìm đến file mà bạn cần xóa để xóa nó đi một cách dễ dàng (nơi chứa file này trong X cũng tương tự với nơi chứa nó trong C)



Cuối cùng, sau khi xóa đi file “cứng đầu” mà bạn cần xóa, công việc của bạn là xóa đi phân vùng X vừa được tạo ra bằng cách mở cửa sổ Command Promt và điền câu lệnh subst X: /d để xóa phân vùng ảo X.



Cách 9:



Cuối cùng, nếu như tất cả những phương pháp trên đều đầu hàng trước sự cứng đầu quá đỗi của file mà bạn cần xóa, thì việc còn lại của bạn là nhờ đến sự trợ giúp của phần mềm chuyên dụng. Một trong số đó là Unlocker. Bạn có thể xem hướng dẫn sử dụng và download Unlocker tại : http://ccollomb.free.fr/unlocker/



Unlocker là phần mềm hòan toàn miễn phí, sẽ cho phép phân tích file mà bạn cần xóa để tìm xem nguyên do tại sao không xóa được nó, sau đó, chỉ bằng 1 cú click chuột để kết thúc những mỗi liên quan của hệ thống đối với file mà bạn cần xóa, cuối cùng, bạn có thể xóa file đó đi theo cách thông thường.

Lỗi "profile in use" khi sử dụng FireFox

đang xài trình duyệt FireFox 2.0.0.12. Đôi khi đang sử dụng FireFox bị treo, em tắt đi và mở lại thì bắt gặp dòng thông báo lỗi: "FireFox cannot use the profile primary because it in use...",

Đây là trường hợp khá phổ biến khi sử dụng trình duyệt FireFox. Các thông báo lỗi sẽ xuất hiện khi trình duyệt bị treo đột ngột và khởi động lại sau khi bị treo. Thông thường sẽ có hai thông báo lỗi là:

- "Firefox is already running, but is not responding. To open a new window, you must first close the existing Firefox process, or restart your system": Lỗi xuất hiện khi bạn vừa tắt Firefox và mở lại. Thực tế thì Firefox đã được tắt nhưng hệ thống vẫn chưa đóng nó lại. Cách thức dễ nhất để xử lý tình huống này là mở Task Manager bằng cách phải chuột lên khay hệ thống, chọn Task Manager, chuyển đến thẻ Processes, tìm đến firefox.exe trong danh sách rồi xóa (delete) chúng đi. Hệ thống sẽ bị buộc phải ngưng hoạt động của Firefox hoặc chỉ đơn giản là bạn restart lại máy.

- "Firefox cannot use the profile Primary because it in use, To continue, close the running instance of Firefox or choose a different profile": Lỗi này cần cách xử lý khéo léo hơn một chút. Điều đầu tiên cần làm là tìm vị trí tập tin profile của Firefox hiện diện trên ổ cứng. Ở đây ta chọn C làm partition mặc định cài đặt Windows.

* Trong Windows 2000/XP: C:\Documents and Settings\\Application Data\Mozilla\Firefox\Profiles\

* Trong Windows Vista: C:\Users\\AppData\Roaming\Mozilla\Firefox\Profiles\

* Trong Linux: ~/.mozilla/Firefox/Profiles/

* Trong Mac OS X:
~/Library/Mozilla/Firefox/Profiles/
~/Library/Application Support/Firefox/Profiles/

Khi vào trong thư mục Profiles của FireFox, bạn sẽ thấy một tập tin mà bạn cần xóa, nó là một "khóa" mà trình duyệt tạo ra để đảm bảo không có ứng dụng nào khác có thể hiệu chỉnh các tập tin trong khi Firefox đang sử dụng chúng. Tên tập tin thường là parent.lock (Windows), lock.parentlock (Linux) hay .parentlock (MacOS). Sau khi tập tin bị xóa, bạn sẽ có thể chạy trình duyệt FireFox lại bình thường như trước.

6 bước để có đường truyền Internet nhanh hơn

Phải trả hàng trăm ngàn đồng tiền dịch vụ băng thông rộng mỗi tháng, nhưng chất lượng đường truyền không hề được như mong đợi? Sáu bước hướng dẫn sau đây có lẽ sẽ giúp cải thiện đáng kể tình hình “bi đát” của bạn.


1. Kiểm tra chất lượng đường truyền




Trước khi bắt tay “vọc”, kiểm tra tốc độ thực đường truyền tải lên/tải xuống của bạn tại các website như Speedtest.net. Nếu được, thực hiện phép thử tại nhiều thời điểm trong ngày, đặc biệt vào lúc bạn thường xuyên online. Chú ý rằng tốc độ kết nối tới các website trong nước và nước ngoài đôi khi khác nhau, thậm chí với từng quốc gia cũng có sai số đáng kể. Tốc độ tải vào ban đêm cũng thường nhanh hơn ban ngày.



2. Cập nhật firmware hoặc mua modem/router mới.



Nếu modem ADSL hoặc cáp đã được vài năm tuổi, bạn có thể yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ (ISP) cấp modem mới, có phí hoặc đôi khi miễn phí nếu chấp nhận kí hợp đồng ít nhất một năm. Trong trường hợp cable modem, các modem đời mới dùng chuẩn DOCSIS 2.0 cải thiện rõ rệt tốc độ sử dụng so với modem dùng chuẩn 1.1 cũ.



Các modem được nhà phát hành cung cấp theo hợp đồng thường khá khó kiếm cũng như cập nhật firmware mới, nhưng trong phần lớn trường hợp bạn có thể tự tay làm việc này. Để cập nhật modem ADSL, vào start > run, gõ cmd và gõ tiếp ipconfig /all. Dòng default gateway IP thường là số LAN IP của modem bạn – gõ địa chỉ đó vào trình duyệt web để truy cập vào giao diện điều khiển web của modem. Bạn cũng có thể tìm số IP này qua sách hướng dẫn sử dụng đi kèm mỗi modem, cũng như username và password mặc định nếu có.







Sau khi đã login, tìm số firmware tại trang status, và kiểm tra trên trang chủ của hãng sản xuất có phiên bản mới chưa. Nếu có, download (tải về) máy tính, và thực hiện các bước cập nhật thường được hướng dẫn ngay trong modem. Sau khi đã cập nhật thành công, khởi động lại modem và kiểm tra chất lượng đường truyền của bạn một lần nữa bằng speedtest.net. Thông thường, ngoài cải thiện tốc độ download-upload nếu có, modem được cập nhật firmware mới cũng sẽ bớt “đứt mạng” bất ngờ hoặc các lỗi mất kết nối khó chịu khác.



3. Kiểm tra thông số cài đặt modem



Ngoài cập nhật firmware, bạn cũng có thể kiểm tra vài thông số như tốc độ tải tối đa (tải lên: upstream, tải xuống: downstream) có giống hợp đồng đã kí với ISP hay không. Nếu cảm thấy có gì đó không ổn, gọi điện tới phòng kĩ thuật-chăm sóc khách hàng của ISP để được giúp đỡ miễn phí.






Ngoài ra, bạn cũng có thể kiểm tra thông số SN (signal to noise). SN càng cao, đường truyền càng nhiễu, thiếu ổn định và các gói tin bị gửi lại nhiều lần cho tới khi đến được địa chỉ. Với đường truyền ADSL chung với đường dây điện thoại, nhiễu 20-30 dB đạt mức tốt, và từ 50 dB trở lên là có vấn đề. Nếu có trình độ kĩ thuật khá, bạn có thể tìm hiểu thông số này qua hướng dẫn trực tuyến (http://www.dslreports.com/faq/13915) hoặc sách hướng dẫn sử dụng modem.



4. Kiểm tra chất lượng đường dây



Nếu tốc độ đường truyền qua Speedtest không được như ý, hoặc nhiễu quá cao, có lẽ đường dây của bạn đã đến lúc cần bảo trì. Bạn có thể kiểm tra bằng mắt thường dọc theo đường dây, hoặc đơn giản hơn gọi điện đến phòng chăm sóc khách hàng của ISP yêu cầu thay dây mới.



Với các modem ADSL, phần lớn nguyên nhân gây nhiễu là do các thiết bị đàm thoại dùng chung đường dây. Thông thường nhà cung cấp dịch vụ lắp đặt các bộ lọc tín hiệu, nhưng đôi khi chúng hoạt động không hiệu quả và cần kiểm tra lại. Cách tốt nhất, và cũng tốn kém nhất để loại trừ hoàn toàn nhiễu là gắn một splitter ngay hộp điện thoại, và chạy riêng hai đường điện thoại-internet từ đó về nhà bạn. Nhà cung cấp dịch vụ cũng có thể “đi dây” miễn phí cho bạn.

Nguyên do cuối cùng có thể là do các thiết bị điện được tiếp đất không chuẩn, đặc biệt với đường truyền cáp.



5. Tối ưu hoá phần mềm



Sau khi đã loại trừ mọi nguyên nhân phần cứng, phần mềm và hệ điều hành cũng cần tối ưu hoá để đạt chất lượng đường truyền tốt nhất. Các phần mềm như Tweak-XP Pro Premium hay TweakVI Premium (http://www.totalidea.com/content/downloads.php) sẽ phục vụ bạn hoàn toàn tự động.






Hệ điều hành Windows Vista không cần tối ưu hoá như Windows XP do có khả năng thiết lập thông số TCP linh hoạt. Thay vào đó, người dùng Vista nên để ý tới từng ứng dụng cụ thể, như Firetune chuyên dành cho FireFox, hoặc Fasterfox – một addon khá nổi tiếng. Chú ý rằng những phần mềm này thường có tác dụng phụ, ví dụ như Fasterfox sẽ khiến FireFox chiếm dụng tài nguyên CPU khi nạp trang nhiều hơn hẳn bình thường. Bạn nên bỏ chút thời gian dùng thử trước khi ra quyết định.



6. Tăng tốc download



Biện pháp cuối cùng thực ra khá quen thuộc: sử dụng các phần mềm quản lý quá trình download. Các phần mềm được sử dụng phổ biến nhất ở Việt Nam là IDM (30 ngày dùng thử), Flashget (miễn phí), Gigaget (miễn phí). Flashget là ứng cử viên hàng đầu cho dân mạng có nhu cầu download lớn, do miễn phí và hiệu năng không thua kém nhiều IDM. Người dùng FireFox có add-on chuyên dành cho download mang tên FlashGot.

Thứ Ba, 18 tháng 3, 2008

Sở hữu 5GB lưu trữ trực tuyến miễn phí

Windows SkyDrive là dịch vụ lưu trữ trực tuyến hoàn toàn miễn phí cho phép lưu và truy cập tới dữ liệu của bạn ở bất kì đâu có kết nối Internet, cung cấp dung lượng lên tới 5GB và lời đảm bảo chất lượng từ thương hiệu Microsoft.


1. Đăng kí tài khoản Windows Live



Trước hết, nhấn vào đây để đăng nhập hoặc đăng kí account mới nếu chưa có tài khoản Windows Live. Windows SkyDrive là một trong các gói dịch vụ của Windows Live sẽ được cung cấp chính thức trong nay mai. Hiện tại, chỉ với một bước đăng kí đơn giản bạn sẽ có cả tài khoản thư điện tử Hotmail, tài khoản chat MSN Messenger và tài khoản Windows Live SkyDrive.



Nhấn sign up và điền các thông số: tên tài khoản, mật khẩu, địa chỉ email dùng nhận password khi thông báo quên mật khẩu, và câu hỏi bí mật. Các câu hỏi còn lại liên quan tới thông tin cá nhân: tên tuổi, giới tính, địa chỉ có thể điền tuỳ ý. Gõ chính xác dãy kí tự trong hình kiểm tra, và nhấn “I accept” để hoàn tất quá trình đăng kí.



2. Sử dụng SkyDrive Dropbox



Ngay sau khi quá trình đăng kí hoàn tất, bạn sẽ được chuyển đến giao diện chính của SkyDrive, gọi là SkyDrive DropBox.



Tuỳ biến thư mục






Personal Folders là các folder không chia sẻ cho người khác, là nơi bạn sẽ chứa các dữ liệu cá nhân của mình. Tạo các thư mục trong mục “Public Folders” nếu bạn muốn chia sẻ dữ liệu với tất cả mọi người, hoặc chỉ đơn giản vài người thân nếu muốn với mục “Shared Folders”. Bạn có thể quản lý riêng số người có thể truy cập vào từng folder bằng tài khoản Windows Live hoặc địa chỉ mail tại mục folder Options > Readers của mỗi thư mục.



Tải file lên “ổ cứng web”






Hiện tại SkyDrive chỉ hỗ trợ hình thức upload trực tuyến qua trình duyệt. Nhấn “add files” ở bất cứ thư mục nào, Browse > chọn đường dẫn tới file muốn upload và nhấn ok. File được tải lên bị giới hạn 50MB mỗi file – đủ cho phần lớn người dùng, và sẽ mở rộng hơn trong tương lai với người dùng có đóng phí.



Chia sẻ file với bạn bè






Cách thức đơn giản nhất là nhấn vào từng thư mục, copy và paste đoạn link “Web address” gửi cho người bạn cần chia sẻ. Bạn có thể thấy link có dạng https://, tức file được upload lên SkyDrive đã được mã hoá và bảo mật hết sức chắc chắn! Ngoài ra, bạn có thể kết hợp thêm vài dịch vụ khác như tinyurl để rút ngắn đường link khó nhớ kia

Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2008

Tạo hình nền cho các ổ đĩa

Để làm đẹp cho Desktop, bạn thường sử dụng các wallpaper để làm background. Vậy nếu bạn đặt cả background cho các ổ đĩa thì sẽ thế nào? Bài viết sau đây sẽ hướng dẫn cách thức bạn tạo hình nền cho các ổ đĩa.

Bạn có thể tạo hình nền cho các phân vùng ổ đĩa trên ổ cứng, trên My Documents, có thể là trên các bộ nhớ di động như USB… nhưng bạn không thể tạo hình nền cho các thư mục con bên trong chúng.



Để có thể tạo hình nền cho ổ đĩa, bạn kiếm một hình ảnh ưng ‎ys và chỉnh kích thước của chúng lại cỡ 800 chiều ngang và 600 chiều cao. Kích cỡ này tùy thuộc vào độ phân giải màn hình của bạn. Bài viết này sử dụng động phân giải mặc định là 1024 x 768. Trong trường hợp màn hình bạn có độ phân giải lớn hơn (hoặc nhỏ hơn) thì có thể chỉnh lại kích thước của bức ảnh sao cho phù hợp. Bạn có thể sử dụng Photofiltre để thực hiện việc này dễ dàng.



Sau khi đã chọn cho mình hình ảnh ưng ý và thay đổi kích cỡ của nó, bạn đặt bức hình đã chỉnh sửa vào thư mục bạn muốn tạo hình nền (các phân vùng ổ đĩa hoặc My Documents). Việc tiếp theo của bạn là click vào nút Start, chọn run và điền write vào hộp thoại. Cửa sổ Word Pad sẽ được mở ra.



Bây giờ, bạn copy và dán đoạn mã sau vào cửa sổ Word Pad:



[.ShellClassInfo]

ConfirmFileOp=0

[ExtShellFolderViews]

{BE098140-A513-11D0-A3A4-00C04FD706EC}={BE098140-A513-11D0-A3A4-00C04FD706EC}

[{BE098140-A513-11D0-A3A4-00C04FD706EC}]

Attributes=1

IconArea_Image=16.JPG





Trong đó, điều bạn cần lưu ý là dòng IconArea_Image=16.JPG . Đây là tên của file bạn muốn sử dụng làm background. Trong trường hợp bạn muốn sử dụng 1 file tên là Test và có định dạng BMP thay vì JPG, bạn sẽ sửa lại nội dung của dòng đó như sau : IconArea_Image=Test.BMP.



Ngoài ra, trong trường hợp bạn muốn sử dụng 1 thư mục khác để chứa hình ảnh làm background, chẳng hạn bạn tạo 1 thư mục hinh_nen để chứa file 16.JPG dùng làm background, bạn cần phải đặt file 16.JPG đó bên trong thư mục hinh_nen và thư mục hinh_nen đó phải đặt ngay trong ổ đĩa bạn muốn tạo background. Bây giờ, bạn sửa dòng trên lại thành : IconArea_Image=hinh_nen\16.JPG



Sau khi đã chỉnh sửa xong nội dung, bạn lưu lại file đã tạo ra dưới tên gọi desktop.ini bằng cách tại cửa sổ Word Pad, bạn chọn File, bấm Save (hoặc bấm tổ hợp phím Ctrl + S). Tại khung File name, bạn điền desktop.ini và click Save. Bạn chọn save file này ngay bên trong ổ đĩa bạn muốn tạo background (hoặc là thư mục My Documents, hoặc là trên USB…)



Sau khi bạn Save lại, bạn vào My Computer và chọn ổ đĩa bạn đã tiến hành các thao tác trên. Bây giờ, bạn sẽ thấy nền của ổ đĩa không còn là một màu trắng buồn tẻ mà ngược lại là hình ảnh tuyệt đẹp mà bạn đã chọn trước đó. Nếu bạn không muốn file autorun.ini và hình ảnh làm hình nền choáng chỗ trên ổ đĩa, bạn có thể click chuột phải vào 2 file này, chọn Properties và chọn Hidden ở mục Attribute.



Hy vọng thủ thuật này có thể giúp cho máy tính của bạn trông đẹp mắt hơn.

“Hồi sinh” kết nối Internet bị đứt

Tự nhiên kết nối Internet bị “ngỏm”? Bạn hãy tận dụng “sức mạnh” của Windows để “cứu” đường truyền của mình trước khi phải mời gọi các nhà cung cấp dịch vụ Internet.

Sau đây là 4 cách cơ bản giúp xử lý tình trạng kết nối Internet cho PC của bạn.



1. Làm mới (refresh) địa chỉ IP



Nếu bạn sử dụng đường truyền DSL hoặc cáp băng thông rộng thì bạn đã có một địa chỉ IP (giao thức Internet) động. Tức là địa chỉ Internet của máy tính bạn sẽ thay đổi mỗi khi bạn đăng nhập. Địa chỉ IP do dịch vụ DHCP (Dynamic Host Control Protocol) kiểm soát.



Tuy nhiên, đôi khi bạn đăng nhập vào hệ thống nhưng việc gán địa chỉ IP lại không tự động thực hiện, thế nên, bạn phải tự thay đổi lại, tức làm mới (refresh) lại IP.



Cho dù bạn kết nối Internet qua modem hay là router, cũng thực hiện theo cách sau: Click phải chuột vào biểu tượng network ở bên khay hệ thống phía bên phải màn hình. Từ menu xuất hiện, bạn chọn Repair để sửa. Windows sẽ tự động xóa địa chỉ IP cũ và yêu cầu một địa chỉ mới từ router hoặc từ nhà cung cấp Internet.



Cách làm này hầu hết là rất hiệu quả nhưng nếu chẳng may không thành công thì bạn phải thực hiện bằng tay, sử dụng lệnh Ipconfig.




Bạn mở Start à Run và gõ cmd. Trong Windows Vista, bạn gõ cmd trong hộp thoại tìm kiếm Start Search.



Tại dấu nhắc, gõ ipconfig. Sau đó bạn sẽ thấy xuất hiện địa chỉ IP hiện thời, mặt nạ con (subnet mask), gateway mặc định (default gateway) và tất cả adapter (như Wi-Fi và Bluetooth).



Để refresh địa chỉ IP, bạn phải nhập thêm tham số /release và /renew vào phía sau lệnh Ipconfig. Sau khi gõ ipconfig /release, máy chủ DHCP sẽ xóa địa chỉ IP hiện thời. Sau đó, gõ ipconfig /renew. Nếu lệnh này thành công thì bạn sẽ thấy một địa chỉ IP mới, mặt nạ con, gateway mặc định mới xuất hiện.



2. Sử dụng bộ đệm DNS



Bình thường bạn vẫn kết nối Internet dễ dàng nhưng không hiểu vì lý do gì đó bỗng nhiên lại không thể truy cập được một website nào đó mà bạn thường xuyên đăng nhập. Vấn đề có thể nằm ở bộ phận cache của máy khách DNS. Hệ thống tên miền (DNS) dịch tên của tên miền dạng chữ thành địa chỉ IP dạng số. Ví dụ, địa chỉ của Amazon.com là 207.171.171.132.



Bộ nhớ đệm (cache) ghi lại lịch sử lần truy cập website trước đó của bạn và sẽ tăng tốc quá trình đăng nhập của lần sau. Tuy nhiên, đôi khi bộ đệm bị lỗi khiến cho máy tính của bạn không thể tìm được địa chỉ web mà bạn muốn truy cập. Vì thế, bạn nên xóa toàn thông tin trong bộ đệm để việc ghi nhớ thực hiện được tốt hơn.



Bạn mở Start à Run và gõ cmd. Tại dấu nhắc, gõ lệnh ipconfig /displaydns. (Nhớ phải để dấu cách giữa lệnh ipconfig và dấu /) Sẽ xuất hiện một bảng danh sách các website mới được truy cập. Tiếp đó, bạn gõ, ipconfig /flushdns để xóa danh sách này.



Bây giờ, bạn có thể thử truy cập lại website mong muốn. Chắc chắn sẽ “ngon lành”.




Lệnh Ipconfig có rất nhiều tham số để xử lý các rắc rối phức tạp. Để tìm hiểu thêm, bạn gõ ipconfig /? Hoặc ipconfig /help



3 Lệng Ping



Cũng trong cửa sổ DOS, bạn có thể sử dụng lệnh Ping để xác định tình trạng kết nối Internet của máy tính. Lệnh Ping được xem rất có hiệu quả giúp hồi phục lại kết nối Internet. Ping sẽ gửi gói dữ liệu đến host. Lệnh này sẽ ước lượng thời gian đi hai chiều của gói tin và sẽ liệt kê những gói nào đã bị mất.



Đầu tiên, bạn nên ping vào card mạng của máy tính. Tại dấu nhắc, gõ ping 127.0.0.1 và chờ vài giây. Windows sẽ ping hệ thống card mạng của bạn và nếu bạn nhận được gói dữ liệu thì có nghĩa card mạng vẫn hoạt động tốt.




Tiếp theo, bạn pin vào một địa chỉ web nào đó, ví dụ: ping google.com. Nếu gói dữ liệu được gửi tới thì tình trạng kết nối Internet không có vấn đề nào nữa. Bạn có thể lướt web thoải mái.



Tuy nhiên, nếu bạn không nhận được gói dữ liệu thì thử ping địa chỉ IP của gateway mặc định (bạn có thể lấy địa chỉ này bằng lệnh Ipconfig). Nếu ping gateway rồi nhưng bạn không nhận được phản hồi thì có nghĩa Windows không thể kết nối với router hoặc modem. Lúc này, bạn cần phải kiểm tra lại modem hoặc là router hay là cáp kết nối.



4. Kiểm tra phần cứng



Nếu bạn đã sử dụng các “chiêu” trên mà vẫn không “cứu” được Internet thì giờ bạn phải kiểm tra về phần cứng. Nếu máy tính được kết nối trực tiếp với DSL hoặc cáp modem. Bạn kiểm tra xem đầu dây cáp dã được cắm chắc chắn với modem chưa, và các đèn của modem có sáng hết không. Đồng thời hãy nhìn vào cổng ethernet của máy tính để xem đèn có sáng không. Nếu đèn tắt trong khi cáp vấn được nối với máy tính đã bật nguồn thì có nghĩa bạn phải thay dây cáp ethernet.



Nếu đèn sáng nhưng bạn không kết nối được Internet thì bạn nên tắt hết thiết bị mạng của mình và chờ một phút. Sau đó khởi động lại. Nhưng quan trọng, bạn nên thực hiện theo các bước sau đây:



1. Tắt máy tính, tháo dây nguồn của modem.

2. Khởi động lại modem. Sau khi đã reset, và đèn sáng báo kết nối thì hãy bật router và chờ cho đến lúc nó reset.

3. Sau đó, bật máy tính và mở trình duyệt để kiểm tra kết nối.



Nếu đã thực hiện tất cả các bước trên mà vẫn “chết” mạng thì bạn nên nhờ sự giúp đỡ của nhà cung cấp dịch vụ.

Khôi phục hệ thống bằng System Restore trong Windows (III)

Bạn đã học được cách khôi phục hệ thống trong môi trường Windows. Vậy trong trường hợp hệ thống gặp rắc rối đến mức không thể nào vào được Windows, thì bạn sẽ phải làm thế nào?
>> Khôi phục hệ thống bằng System Restore trong Windows (II)
>> Khôi phục hệ thống bằng System Restore trong Windows (I)

Trong trường hợp máy tính của không thể nào khởi động vào Windows được, điều này cũng đồng nghĩa với việc bạn không thể sử dụng chức năng System Restore theo cách thông thường được, bởi vì chức năng System Restore chỉ có thể sử dụng trong môi trường Windows. Trong trường hợp này bạn phải cần nhờ đến một chức năng khác cũng vô cùng hữu dụng để giúp bạn. Đó là chức năng Vista Recovery Environment.



Vista Recovery Enviroment (VRE) là một chức năng rất hữu dụng. Bên cạnh System Restore, thì VRE là công cụ giúp bạn khôi phục lại hệ thống trở lại trạng thái tốt nhất trước đó mà không cần phải cài đặt lại cả Windows.



Thậm chí, VRE còn có phần nhỉnh hơn bởi vì VRE có thể sử dụng được ngay cả khi bạn không vào được Windows, trong khi System Restore yêu cầu phải vào được Windows và hoạt động ngay bên trong môi trường đó. Tuy nhiên để có thể sử dụng được VRE thì chức năng System Restore phải được kích hoạt, bởi vì VRE sẽ sử dụng những mốc khôi phục (Restore Points) do System Restore tạo ra để khôi phục lại hệ thống. Điều này có nghĩa là nếu chức năng System Restore không được kích hoạt thì sẽ không có các mốc khôi phục được tạo ra, thì VRE cũng không thể sử dụng để khôi phục lại hệ thống.



Để kích hoạt chức năng System Restore trong Windows Vista, bạn có thể xem lại hướng dẫn ở bài trước.



Do đó, về cơ bản, chức năng VRE cũng chỉ là một bước nâng cao hơn của chức năng System Restore. (quy chế hoạt động và cách thức sử dụng là tương đương nhau)



Sau đây là cách thức để kích hoạt và sử dụng chức năng Vista Recovery Enviroment:



- Trong một vài trường hợp, chức năng Windows Recovery Enviroment đã được cài đặt trực tiếp lên một phân vùng nhỏ trên ổ cứng. Để truy cập vào phân vùng này, sau khi bấm công tắc trên thùng máy, bạn nhấn liên tục nút F8 trên bàn phím, bạn sẽ thấy được một danh mục khởi động của Windows. Từ danh mục này, sử dụng phím mũi tên lên xuống trên bàn phím để chọn đến tùy chọn Windows Recovery Environment và nhấn phím Enter. Sau khi nhấn Enter, bạn sẽ thấy một màn hình đen với một thanh trạng thái màu trắng cùng hàng chữ Windows is loading files… Sau một lúc, bạn sẽ thấy màn hình khởi động của Windows. Đây là màn hình bắt đầu quá trình cài đặt của Windows Vista.





Tuy nhiên, trong một vài trường hợp khác thì chức năng VRE lại chưa được cài đặt sẵn trên ổ cứng. Trong trường hợp này, bạn cần phải sử dụng đến đĩa cài đặt (CD hoặc DVD) Windows Vista. Đầu tiên, bỏ đĩa cài đặt Windows vào ổ đĩa và khởi động lại hệ thống, bạn sẽ nhận được thông điệp thông báo rằng sẽ khởi động bằng CD trong ổ đĩa. Bạn nhấn bất kỳ phím nào trên bàn phím để bắt đầu quá trình khởi động.



Sau một thời gian bắt đầu khởi động từ ổ đĩa. Bạn sẽ nhận được kết quả tương tự như ở trên hình 1. Đây là màn hình đầu tiên yêu cầu bác thiết lập các thông số cho quá trình tiếp theo sau này, bao gồm Language to install (thiết lập ngôn ngữ), Time and currency format (thiết lập thời gian), Keyboard or input method (thiết lập kiểu gõ của bàn phím). Sau khi đã thiết lập những tùy chọn cần thiết, bạn nhấn Next để sang bước tiếp theo. Bây giờ bạn sẽ thấy màn hình chính của quá trình cài đặt Windows Vista.





- Bây giờ bạn click vào Repair your computer. Tùy chọn này sẽ đưa bạn đến một màn hình mới nơi cho phép bạn bắt đầu quá trình chỉnh sửa hệ thống. Sau khi quá trình này hoàn tất, hộp thoại System Recovery Options sẽ xuất hiện







- Hộp thoại này sẽ đưa ra danh sách những hệ điều hành có trên máy tính của bạn (thông thường chỉ là 1). Bạn chọn 1 hệ điều hành trong danh sách đó mà chỉnh sửa hoặc khôi phục. Sau khi đã chọn lựa xong, bạn nhấn Next để tiếp tục quá trình. Nếu quá trình chỉnh sửa không gặp vấn đề gì quá nghiêm trọng (nghĩa là hệ thống của bạn vẫn còn có thể cứu vãn và khôi phục lại được) thì hộp thoại System Recovery Options sẽ hiển thị 1 danh sách những tiện ích để bạn có thể khôi phục lại hệ thống.



Ngược lại, trong trường hợp phát hiện ra một lỗi nghiêm trọng đối với hệ thống, quá trình sẽ tự động kích hoạt chức năng Startup Repair để tự động sửa những lỗi đó. Trong trường hợp này, bạn nên nhấn nút Cancel để kết thúc quá trình tự động chỉnh sửa này, và chọn View advanced options for system recovery and support để có thể đến được danh sách các tiện ích như hình trên.



- Để khôi phục lại hệ thống trở lại các mốc khôi phục trước đó, bạn click vào tùy chọn System Restore ở danh sách các tiện ích. Khi bạn click vào tùy chọn này, hộp thoại của quá trình System Restore sẽ hiển thị báo hiệu bắt đầu quá trình khôi phục hệ thống.





- Tại đây, bạn bấm Next. Một danh sách các mốc khôi phục mà bạn có thể sử dụng để khôi phục lại hệ thống sẽ hiện ra. Mốc khôi phục bạn nên chọn là mốc thời điểm mà bạn biết chắc rằng hệ thống của mình sẽ hoạt động tốt. Click chuột phải vào một mốc thời điểm trên danh sách và tiếp tục nhấn Next.







- Bây giờ, tại bước tiếp theo, bạn sẽ được yêu cầu chọn phân vùng ổ đĩa mà bạn sẽ khôi phục lại hệ thống ở trên nó (Là phân vùng ổ đĩa chứa các mốc khôi phục được tạo ra trước đó, thường là các phân vùng ổ đĩa hệ thống) Sau khi đã chọn được những phân vùng ổ đĩa mà bạn muốn khôi phục hệ thống của nó, bạn nhấn Next để qua bước tiếp theo.







- Tại bước này, quá trình sẽ yêu cầu bạn xác nhận lại 1 lần nữa sự lựa chọn của mình đối với mốc khôi phục đã chọn trước đó. Nếu bạn đồng ý với mốc khôi phục đã chọn, bạn nhấn Finish để bắt đầu khôi phục. Ngược lại, bạn nhấn Back để quay lại chọn cho mình một mốc khôi phục khác. Khi bạn nhấn nút Finish, bạn sẽ nhận được một cảnh báo rằng một khi đã bắt đầu khôi phục thì quá trình sẽ không thể dừng lại. Nếu bạn sẵn sàng tiếp tục thì bấm nút Yes. Chức năng System Restore bây giờ sẽ được kích hoạt và bắt đầu khôi phục lại hệ thống, trở về thời điểm mà bạn đã chọn ở tại mốc khôi phục.







- Sau khi quá trình khôi phục hoàn thành, một hộp thoại khác sẽ xuất hiện báo cho bạn biết quá trình khôi phục đã thành công và yêu cầu bạn khởi động lại hệ thống. Bạn nhấn vào nút Restart để khởi động lại hệ thống.





- Máy tính của bạn sẽ được khởi động lại, và bây giờ máy tính của bạn đã có thể vào windows Vista bình thường. Khi khởi động vào Windows, bạn sẽ nhận được một hộp thoại thông báo rằng hệ thống của bạn đã trở lại mốc trước đó (mốc mà bạn đã chọn để khôi phục), điều này đồng nghĩa với những tùy chọn đã thiết lập trên hệ thống hay những phần mềm đã cài đặt sau thời điểm khôi phục sẽ bị mất. Tuy nhiên dữ liệu sẽ không bị ảnh hưởng.





Bây giờ, với những kiến thức về khôi phục hệ thống, dù trong trường hợp có thể vào Windows hay không, thì bạn vẫn có thể yên tâm hơn với dữ liệu của mình, chí ít là không phải mất sạch dữ liệu khi cài đặt lại Windows. Tuy nhiên, không phải lúc nào khôi phục lại hệ thống cũng là một lựa chọn tốt nhất. Cách tốt nhất đối với máy tính khi sử dụng là nâng cao nhận thức những mối nguy hiểm có thể xảy ra với hệ thống để có phương hướng khắc phục, bảo vệ và sử dụng tốt nhất.

Một tài khoản đăng nhập được hơn 9.000 website

Bắt đầu từ ngày 30/1, người dùng sẽ có thể sử dụng cùng một tài khoản để đăng nhập vào hơn 9.000 website hỗ trợ OpenId của Yahoo. Vì thế, bạn sẽ không cần phải đăng ký thêm một tài khoản mới.

Yahoo cho biết dịch vụ OpenID sẽ chạy thử nghiệm bắt đầu từ cuối tháng này. Đồng thời, Yahoo cũng sẽ tích hợp tính năng dán mã đăng nhập Sign-In Seal, chức năng được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức tài chính nhằm giảm nguy cơ bị lừa đảo trực tuyến.

Mỗi một Open ID là một định dạng (nhận dạng) số duy nhất. Nói một cách đơn giản hơn thì người dùng không cần phải sử dụng nhiều tài khoản khác nhau trên các website khác nhau mà chỉ cần sử dụng một tài khoản Open ID duy nhất. Tại các website hỗ trợ Open ID, bạn chỉ đăng nhập bằng tài khoản Open ID của bạn thay vì phải đăng kí một tài khoản mới.

OpenID có thể giảm bớt phiền phức khi người sử dụng phải nhớ quá nhiều password khi đăng nhập những website khác nhau. Hiện Yahoo đang khống chế tên miền me.yahoo.com cho thấy Yahoo sẽ trở thành nhà cung cấp chứng nhận OpenID.

Flickr.com website thuộc sở hữu của Yahoo sẽ cho phép người dùng sử dụng mã và file đăng nhập Flickr của họ để đăng nhập vào các website hỗ trợ OpenID khác. Người dùng có thể xem mã nguồn ảnh Flickr tại đại chỉ: https://open.login.yahooapis.com/openid/op/auth.

OpenID là 1 dự án mở có được sự ủng hộ của Microsoft, Google. Nhưng trên website của Microsoft và Google vẫn chưa hỗ trợ OpenID 1 cách rộng rãi. Việc Yahoo thử nghiệm OpenID sẽ tạo động lực thúc đẩy hỗ trợ OpenID trên quy mô lớn, ảnh hưởng mạnh mẽ tới ứng dụng OpenID.

OpenID được cho là 1 hệ thống phân tán vì không có 1 doanh nghiệp nào có thể không chế tất cả thông tin chứng thực. Nó trao cho user quyền lớn hơn là được quyết định ai có thể sử dụng thông tin chứng thực của họ nhằm bảo đảm an toàn. Website cung cấp dịch vụ OpenID sẽ cấp cho user 1 URL đặc biệt, khi có người vào website có hỗ trợ OpenID họ có thể nhập URL này, sau đó người dùng có thể đăng nhập vào website mới.

User cũng có thể đem profile của họ upload lên website mới, khái niệm này gọi là đăng kí đơn nhất, có nghĩa là user chỉ cần rất ít password nhưng thông tin chia sẻ lại an toàn hơn, họ có thể đăng nhập vào nhiều website hơn . AOL, LiveJournal, Technorati và nhà cung cấp dịch vụ di động Orange đều có hỗ trợ OpenID, ngoài ra còn có hàng trăm website đang sử dụng tiêu chuẩn OpenID.

Thêm “cảm xúc chat” với Yahoo! Friend

Sinh động hoá hơn nữa việc “chat chit” của bạn bằng sự giúp đỡ của các biểu tượng sặc sỡ từ Yahoo! Friend.

Sau quá trình cài đặt rất đơn giản, bạn có thể phải khởi động lại PC. Phần mềm bao gồm hai phần chính: “dịch vụ gia tăng” hiển thị bằng biểu tượng dưới system tray, và bộ sưu tập các mặt cười đặc biệt nằm trên cửa sổ chat.





Bộ sưu tập mặt cười “mới” này thực chất là các mặt cười có sẵn kết hợp với hiệu ứng và kí tự đặc biệt, khá lạ mắt và .. màu mè sặc sỡ. Ngoài các mặt cười, bạn cũng có thể gửi tới bạn chat các text art – các hình vẽ tạo thành từ nhiều kí tự khá “nghệ thuật”.



Ngoài ra, sau khi chạy Yahoo! Friend, chương trình sẽ hiển thị biểu tượng hình bông hồng dưới góc phải màn hình (systemtray). Nháy chuột phải vào biểu tượng để hiện menu, chọn Plus Service sau đó chọn Auto reply để kích hoạt chế độ tự động trả lời.





Nếu không thoả mãn với các mặt cười có sẵn, bạn có thể tạo hệ thống mặt cười đặc biệt của riêng mình theo các bước sau đây:



1.Sử dụng bất kì trình soạn thảo ngôn ngữ HTML nào (ví dụ FrontPage) để “hiện thực hoá” ý tưởng, sau đó chọn font Wingdings hoặc Webdings, thay đổi màu chữ, cỡ chữ và sắp xếp theo ý muốn.

2.Chọn chế độ “view HTML source”, copy đoạn text nói trên (bao gồm cả các khoá HTML) và lưu lại sang notepad dưới tên file message.txt. Lưu file message.txt đó tại thư mục chứa biểu tượng của Yahoo! Friend, với đường dẫn mặc định tại: C:\Program Files\YahooFriend\Emoticons\


http://www.blogger.com/img/gl.link.gif
insert link


Bạn có thể add nick chính mình vào buddy list để test “mặt cười đặc biệt” vừa tạo. Nên tham khảo thêm các file message.txt khác trong thư mục Emoticon của phần mềm để biết thêm về các code đặc biệt chuyên dành cho Y!M.



Chú ý: các tin nhắn gửi offline sẽ mất hiệu ứng, bạn chỉ nên gửi các “mặt cười đặc biệt” này cho bạn chat đang online.

Phần mềm tất nhiên hoàn toàn miễn phí, download tại đây.

Thiết lập chương trình mặc định dùng trong Windows Vista

Máy tính của bạn có nhiều chương trình có chung 1 tác dụng nhưng nhu cầu thì chỉ cần 1 ứng dụng mà thôi. Bài viết sẽ hướng dẫn cách thức để bạn lựa chọn một chương trình mặc định trong số nhiều chương trình có chung tính năng khi bạn sử dụng Windows Vista.

Bạn sử dụng máy vi tính cho nhiều mục đích khác nhau, và ứng với mỗi mục đích sẽ có 1 chương trình riêng biệt để đáp ứng mục đích đó. Chẳng hạn, bạn muốn nghe nhạc, thì bạn có thể sử dụng Windows Media Player, hoặc Winamp, hoặc rất nhiều chương trình khác, tuy nhiên bạn chỉ sử dụng 1 trong số chúng làm chương trình mặc định, nghĩa là mỗi khi chơi 1 file nhạc thì chỉ sử dụng 1 chương trình thay vì sử dụng cùng lúc nhiều chương trình.



Để làm được điều này, bạn cần phải thay đổi lại một số tùy chọn, bài viết sau đây sẽ hướng dẫn bạn tìm đến đúng chỗ để thay đổi các thiết lập đó.



- Đầu tiên, click nút Start, điền từ khóa default vào hộp thoại search và click vào kết quả đầu tiên. Hoặc bạn có thể vào Control Panel, chọn Programs và chọn Default Programs.





- Cửa sổ Default Programs sẽ xuất hiện và bạn sẽ thấy 4 tùy chọn.





- Click vào tùy chọn đầu tiên : Set program access and computer defaults





- Trong cửa sổ Set Program Access and Computer Defaults bao gồm 3 mục : Microsoft Windows, Non-Microsoft và Custom. Mỗi mục sẽ có những tùy chọn khác nhau. Nếu bạn click vào biểu tượng mũi tên nhỏ ở phía phải của mỗi mục thì một menu sẽ hiển thị với đầy đủ các tùy chọn.





+ Microsoft Windows : Đây là tùy chọn để thiết lập sử dụng các chương trình mặc định của Windows, bởi vì kèm theo Windows là tòan bộ các chương trình mà có thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu của bạn, chẳng hạn, Internet Explorer dùng để trình duyệt web, Windows Media Player dùng để chơi Media, Windows Messenger dùng để chat…



+ Non-Microsoft : cho phép bạn thay đổi các tùy chọn với các chương trình mà bạn cài đặt thêm. Tùy chọn này thích hợp với những ai không muôn sử dụng các chương trình mặc định của Windows.



Nếu để ý kỹ sẽ thấy dưới mỗi tùy chọn sẽ có thêm một số thông tin cảnh báo : Các chương trình bạn chọn không phải là chương trình được tạo ra bởi Microsoft. Sử dụng lựa chọn này đồng nghĩa với việc bạn sẽ khóa toàn bộ các chương trình mặc định của Windows như Internet Explorer, Windows Mail… Ngược lại sẽ sử dụng các chương trình không phải của Microsoft như Opera, MozillaFireFox…

Bạn có thể chọn 1 chương trình mặc định bất kỳ bạn đã cài đặt trước đó mà bạn muốn sử dụng từ danh sách sổ xuống. Ví dụ trong trường hợp dưới, bạn chỉ thay đổi trình duyệt web mặc định và lựa chọn Opera làm trình duyệt mặc định.







+ Custom : đây là lựa chọn dành cho nhứng người sử dụng muốn tự mình thiết lập chương trình tương ứng với mỗi nhu cầu riêng của mình. Tại mục này, đối với mỗi tùy chọn khác nhau sẽ là danh sách các chương trình mà bạn có thể sử dụng, kèm theo những tùy chọn mở rộng cho phép bạn thiết lập sao cho thích hợp nhất.







Sau khi đã hoàn tất quá trình thiết lập các chương trình mặc định, bạn nhất OK để kết thúc công việc.

Chương trình quản lí “tất cả trong 1” Glary Utilities

Glary Utilities là một giải pháp kết hợp dọn dẹp, chỉnh sửa các shortcut, quản lý các chương trình khởi động cùng hệ thống, dọn dẹp các file rác và xóa các dấu vết để lại từ các hoạt động của máy tính sẽ đáp ứng được yêu cầu đó.

Mặc dù có nhiều thiết bị để giữ máy tính sạch sẽ và ở trạng thái làm việc tốt, người sử dụng vẫn không tìm nổi một giải pháp kết hợp tất cả những công cụ cần cho công việc này. Hay ít nhất chứa ít thiết bị nhất có thể để giảm số chương trình install vào máy. Và nếu phần mềm ấy miễn phí thì càng hay. Glary Utilities đáp ứng nhu cầu đó của bạn.


Glary Utilities dường như đã kết hợp tất cả lại dể có thể bảo quản tốt máy tính của bạn theo phương châm với càng ít chương trình phải cài đặt trên hệ thống càng tốt.Ứng dụng này cũng giống như một chiếc thắt lưng hữu dụng cho máy tính của bạn, trang bị gần như tất cả những thứ cần thiết để giữ nó càng sạch sẽ càng tốt; và trên hết nó hoàn toàn miễn phí.


Ngay sau khi kích hoạt chương trình, bạn sẽ nhìn thấy giao diện chính của chương trình, đó là tab Status, sẽ chỉ dẫn bạn cách sử dụng, lần cập nhật cuối và cho phép người dùng đăng ký trả tiền bản quyền để có thể sử dụng.

Còn tab 1-Click Maintenance chỉ là một phần tóm lược những gì mà Glary Utilities có thể làm cho máy tính của bạn và chứa sẵn một trong số 6 công cụ quét dọn quan trọng nhất. Đúng như cái tên, chỉ với một cái click, bạn có thể bắt đầu quá trình quét dọn được chọn. Công cụ điều khiển bằng tay này bao gồm quét dọn đăng ký, chỉnh sửa shortcut, quản lý startup, dọn các file rác, xóa dấu vết và gỡ bỏ spyware hoặc adware.


Không thể định dạng cho các công cụ từ tab này nhưng trước khi thực hiện bất kỳ thay đổi nào, Glary Utilities cho phép người sử dụng xem xét các dữ liệu bị xóa và chọn thông tin mà máy của bạn nên vứt bỏ. Cho mỗi lựa chọn bạn có thể lựa chọn thứ thích hợp và bỏ đi những thứ sai, nếu có (trong quá trình thử nghiệm, chúng tôi chưa bao giờ gặp phải trường hợp này).

Tab "Modules" là nơi chứa những công cụ và thiết bị bảo trì máy tính bao gồm cả Glary Utilities. Trong tab Modules là 5 bộ công cụ với những tính năng khác nhau:



- Với Clean Up & Repair, người sử dụng hưởng lợi từ công cụ Disk cleaner có thể xóa các thứ “tạp nham” ra khỏi hệ thống để có nhiều chỗ trống hơn trên ổ cứng. Registry cleaner được thiết kế để tăng khả năng hoạt động của máy và cho phép người sử dụng chọn những vùng nên scan để tìm những mục không hợp lệ. Shortcuts fixer xóa các shortcut đã hỏng khỏi máy (bạn có thể chọn ổ cần scan) và Uninstaller Manager giúp bạn gỡ bỏ chương trình một cách triệt để.





- Phần Optimize & Improve có nét nổi bật là tính năng StartupMmanager hoàn thiện với lựa chọn thêm hay gỡ bỏ một ứng dụng khởi động cùng hệ thống. Tính năng Memory optimizer sẵn có sẽ giúp bạn dọn dẹp bộ nhớ và tối ưu nó, rất dễ sử dụng và thậm chí có thể tự thực hiện khi các thông số định rõ người sử dụng đã được nhập. Công cụ thứ ba trong phần này là Context Menu Manager, cho phép bạn chọn các tùy chọn sẵn có trên Windows Explorer. Hiệu quả của thay đổi này thể hiện ngay lập tức và không yêu cầu restart..


- Những công cụ của Privacy & Security bao gồm :

+ Track Easer phụ trách những phần của computer của bạn như Windows (các vặn bản hiện thời, Start Menu, tìm kiếm trên Start Menu, Clipboard, các file tạm thời, Recycle Bin, Network Place), Internet Explorer, Mozilla Firefox và Plugins (phụ thuộc vào phần mềm được cài đặt trên máy của bạn). Tính năng Track eraser cũng sẵn có trong 1-Click Optimization, nhưng ở đây bạn có thể dịnh dạng cái gì nên xóa và cái gì không. Nó cũng có điểm đặc biệt là Cookie manager cho phép người dùng chọn các cookie và đánh các link URL để lưu trữ.

+ File Shredder cho phép ta an tâm xóa các dữ liệu quan trọng không thể khôi phục được như khi sử thuật toán tiêu chuẩn US DoD 5220.22-M. Cách thức sử dụngchỉ đơn giản bằng cách thêm tên file hay thư mục mình muốn vào danh sách cần xóa và bấm nút “Erase Now”. Công cụ này cũng hỗ trợ một dụng cụ đặc biệt để xóa khỏi ổ đĩa theo cách bạn chọn, cũng sử dụng các tiêu chuẩn US DoD 5220.22-M như trên.



+ Internet Explorer Assistans có nhiệm vụ quản lý các nội dung liên quan đến IE, như History, cookies, các add-on cài đặt trên nó, và giúp bạn khôi phục lại các tùy chọn nếu chẳng may bị virus tấn công.


+ File Encrypter and Decrypter:Viết lại hay giải mã cũng là một giải pháp dễ dàng để tư nhân hóa các dữ liệu đặc biệt và hạn chế tiếp cận đến chúng. Những lựa chọn được thêm vào của thủ tục bao gồm tự động xóa file gốc sau khi quá trình viết lại mã đã hoàn tất, và tạo ra việc thực hiện được sự tự giải mã. Việc bảo vệ thông tin bằng password cần ít nhất 6 kí tự nhưng không nhiều hơn 16 kí tự.






- Bộ công cụ tiếp theo trong danh sách của Glary Utilities là Files and Folders bao gồm một seri các công cụ quản lí file và thư mục, phân tích khoảng trống của đĩa và chia tách hay nhập lại các file lớn.

+ Disk Analysis kiểm tra lượng không gian trên ổ đĩa là rỗng hay đã được ghi và thể hiện kích cỡ của các file và thư mục ở gốc của ổ đĩa. Thủ tục này nhanh và cho bạn một cái nhìn toàn cảnh đối với các không gian trên ổ đĩa. Hơn nữa, công cụ này cũng sẽ cung cấp thông tin các loại file nổi trội hơn hẳn trong ổ đĩa cũng như một danh sách các file lớn nhất và vị trí của chúng.

+ Công cụ Duplicate finder sẵn có không thực sư tốt lắm và những người sử dụng giàu kinh nghiệm sẽ thấy rõ là nó đã hơi lạc hậu. Các entry đúp sẽ bị xóa theo các tiêu chuẩn như tên file, kích cỡ và thời gian. Kể cả khi tất cả chúng đều được kích hoạt thì lỗi vẫn có thể xảy ra vì ứng dụng không scan kĩ lưỡng lắm đối với các thông số.

+ Công cụ Empty Folders Finder thì ngược lại, cho thấy khả năng chính xác tuyệt vời, có thể đưa ra danh sách các thư mục rỗng một cách chính xác. Trong quá trình thử nghiệm công cụ này, nó không bỏ sót một thứ gì. Tuy nhiên, trong trường hợp các ổ đĩa lớn hơn, nó sẽ mất kha khá thời gian để hoàn thành công.

+ File Splitter & Joiner rất dễ sử dụng và giao diện đã nói lên tất cả các bước để hoàn thành công việc. Các file đã được xử lý có thể được chia nhỏ theo các kích cỡ định trước (1.44MB, 100MB, 1GB, hay 4.7GB) hoặc nếu không có thể lựa chọn theo ý người dùng. Các phần đã được phân chia có thể được ghép lại bằng tay hay tự động dùng chức năng tự ghép trong ứng dụng.


- Bộ công cụ cuối cùng trong tab Modules là System Tools. Bộ công cụ của System Tools bao gồm :

+ Process Manager : với công cụ này bạn có thể thấy một biểu đồ quản lý biểu diễn mọi quá trình đang diễn ra trong hệ thống và những thông tin của chúng. Chức năng hữu dụng này cũng giống như Task Manager vì nó cho phép các quá trình ưu tiên, biểu diễn phần CPU và RAM sử dung, nhưng nó cũng cho phép người dùng có thể chọn các mức độ đe dọa (trung tính, đáng tin hay nguy hiểm) và đưa ra các lời bình để chia sẻ với những người dùng khác.
+ Công cụ thứ 2 bạn có thể sử dụng để quản lí hệ thống là Windows Standard Tools, với nó, bạn có thể dễ dàng quản lí hệ thống bằng những tiện ích cơ bản nhất được cung cấp bởi Windows, chẳng hạn như Checkdisk để kiểm tra file hệ thống, Disk Defragmenter để chống phân mảnh ổ đĩa, System Restore để khôi phục hệ thống…





Đó là toàn bộ những gì bạn cần nắm để có thể thiết lập và sử dụng Glary Utilities để quản lí hệ thống của mình một cách hiệu quả.

Sau đây là một những ưu điểm của chương trình :

- Tập hợp đầy đủ những công cụ thông dụng và nâng cao từ nhiều chương trình quản lí hệ thống khác nhau.

- Chức năng 1-Click Maintenance sẽ giúp bạn sử dụng chương trình được đơn giản hơn mà không phải mất quá nhiều thời gian để thiết lập.

- Cầu hình để sử dụng chương trình thấp, tương thích với cả các máy tính yếu.

- Chương trình hoàn toàn miễn phí.



Tuy nhiên, chương trình cũng mắc phải một số khuyết điểm sau : Không có chức năng File Defagment (Chỉ có chức năng Disk Defragment) và chức năng Registry Defragment. Một số tính năng khác như System Restore, Disk Defragment đôi khi lại bị lỗi không sử dụng được, nhưng sẽ khắc phục được sau khi khởi động lại chương trình.



Cấu hình tôi thiểu và cấu hình đề nghị để sử dụng chương trình :

- Card đồ họa độ phân giải 800x600 với 16-bit màu. (đề nghị 1024x768 và 32 bit màu)

- 20 MB dung lượng ổ cứng (đề nghị 30 MB hoặc nhiều hơn)

- CPU Intel Pentium hoặc AMD K5 133Mhz (đề nghị Intel Pentium 3 trở lên hoặc AMD Athlon 500MHz trở lên)

- 32 MB RAM (đề nghị 128 MB RAM)



Tóm lại, Glary Utilities là một ứng dụng hay tập hợp đầy đủ nhất những bộ cộng cụ khác nhau mà bạn có thể tìm thấy ở một chương trình. Với những tính năng mạnh mẽ nhu vậy mà lại hoàn toàn miễn phí, thì lại chẳng có lí do gì mà bạn lại không sử dụng nó cho máy tính của mình.



Download Glary Utilities hoàn toàn miễn phí tại.

Giúp USB chống lại virus autorun

Thủ thuật nhỏ này tuy không ngăn chặn được toàn bộ các loại virus lây lan qua USB nhưng cũng hạn chế được một phần nào sức tấn công, bảo vệ cho USB cũng như máy tính của bạn.

Hiện nay, các loại virus lây lan qua USB khá phổ biến, có nhiều biển thể khác nhau. Tuy vậy, một phần lớn trong số đó đều có một đặc điểm chung là sẽ tạo ra một file autorun tự khởi động ngay khi người sử dụng kết nối USB với máy tính và từ đó lây lan ra toàn máy cũng như các máy tính liên kết trong mạng.



Một các giải quyết khá đơn giản cho vấn đề này là chúng ta sẽ tạo ra một file chạy autorun mặc định trước cho USB với những khả năng không bị đánh bật ra khi các loại virus xâm nhập và tự tạo file chạy của riêng nó.



Bước 1: Với thế hệ ổ flash USB có dung lượng lớn hiện nay đều có thể chuyển sang định dạng NTFS thay cho mặc định FAT/FAT32. Với định dạng NTFS, hệ thống của USB sẽ được bảo mật chặt chẽ hơn, với việc chia quyền truy cập cấp cao. Chọn Start vào Run sau đó gõ: Convert : /FS:NTFS. Ví dụ ổ USB của bạn là ổ D thì gõ như sau: Convert D: /FS:NTFS. Cách này có thể áp dụng cho cả ổ cứng. Một cách đơn giản hơn là click chuột phải vào biểu tượng USB trong My Computer, chọn Format, trong phần định dạng ổ thì chuyển sang NTFS nhưng với thao tác này dữ liệu của bạn sẽ bị xóa hết do đó hãy sao lưu những gì quan trọng trước khi làm.



Bước 2: Tạo một file autorun.inf bất kỳ, nhớ rằng chỉ cần đặt tên file là như vậy, còn nội dung bạn có thể bỏ không. Tiếp đó click chuột phải vào file vừa tạo ra và chọn thuộc tính read-only để không thể sửa đổi những nội dung của file này.



Bước 3: Để tăng tính bảo mật hơn nữa của file autorun.inf vừa tạo ra, chúng ta sẽ cấm mọi quyền truy xuất đến tập tin này bằng cách vào Run thực hiện: cacls \autorun.inf /D Everyone. Ví dụ USB của bạn là ổ D, ta sẽ có: cacls D: \autorun.inf/D Everyone. Rồi sau đó chọn chế độ hidden cho file chạy này.

Top 9 phần mềm trên web thú vị nhất

Cuộc cách mạng Web 2.0 thay đổi hoàn toàn cách làm việc khi các ứng dụng đều chạy trên nền tảng web. Không phải download về máy - tất cả những gì bạn cần chỉ là trình duyệt và kết nối Internet.

Danh sách dưới đây là những ứng dụng hữu dụng, và cũng kì lạ nhất



9. Qipit - Scan ảnh chụp và chuyển sang định dạng PDF qua đường email



Chụp một bức ảnh của một văn bản bất kì, hoặc thậm chí bảng viết bằng điện thoại di động và gửi qua email đến qipit.com, site này sẽ scan, chuyển sang định dạng PDF và lưu trữ trực tuyến. Qipit không phải là ứng dụng trực tuyến thú vị nhất, nhưng ít nhất cũng giúp các bức ảnh độ phân giải thấp từ mobile phone trở nên có giá trị sử dụng. Ngoài ra, Qipit còn cho phép bạn fax ảnh và tài liệu trực tuyến.



8. Ning - Công cụ thiết kế mạng xã hội trực tuyến miễn phí



Ning là bộ công cụ WYSIWYG (What-You-See-Is-What-You-Get - Những gì bạn thấy là những gì bạn nhận được) cực kì trực quan, cho phép người dùng tạo nên một mạng xã hội của riêng mình với đầy đủ chức năng: đăng kí người dùng, lý lịch, dự đoán, blog, album ảnh và thậm chí cả tên miền cá nhân. Mặc dù vài khách hàng phàn nàn về sự ì ạch khi load các trang chứa nhiều nội dung, Ning thực sự là ứng dụng web đáng giá, dễ làm quen và dễ dùng.



7. Jott - Làm mọi việc bằng giọng nói thay vì gõ tay



Ứng dụng web khá kì lạ này cho phép bạn gọi điện thoại đến máy chủ, sau đó phần mềm cài đặt trên máy chủ sẽ tự động nhận dạng giọng nói và chuyển thành các kí tự thông thường, từ đó gửi qua email của bạn. Các cuộc điện thoại này có thể chỉ là nhắc lịch làm việc, nhưng cũng có thể là một đoạn văn bản, hoặc thậm chí một bài viết blog hoàn chỉnh.. Điểm đáng phàn nàn duy nhất: cước phí điện thoại giá .. trên trời, và dịch vụ chỉ chấp nhận tiếng anh.



6. Anywhere.FM - Nghe nhạc trực tuyến của .. chính bạn



Dịch vụ hosting miễn phí Anywwhere.FM khác với các dịch vụ thông thường như yousendit, rapidshare ở chỗ site cho phép người dùng upload (gửi lên) không giới hạn dung lượng file định dạng MP3, sau đó “phát lại” trực tuyến ngay trên trình duyệt. Có lẽ trong tương lai gần dịch vụ này sẽ bắt đầu thu phí, nhưng tại sao không tận hưởng trong khi nó vẫn còn .. miễn phí? Tất nhiên giới hạn duy nhất của Anywwhere.FM nằm ở chất lượng đường truyền của chính bạn.



5. Doodle - Lên lịch gặp mặt cho các sự kiện lớn



Lại một ứng dụng web khá kì khôi nữa - Doodle giúp bạn lên lịch gặp mặt cho hàng trăm con người cùng một lúc. Chỉ cần tạo phiếu thăm dò ý kiến chứa ngày giờ có thể tổ chức sự kiện, Doodle sẽ tự động gửi phiếu tới tất cả khách mời nhằm thống nhất thời gian cuộc gặp.



4. Netvibes - Tự tạo trang chủ của trình duyệt web



Mỗi trình duyệt đều có trang chủ (startpage) đặc trưng, như FireFox với trang tìm kiếm Google FireFox, hay Opera với trang quick dial. Bạn cũng có thể tạo trang chủ cho riêng mình với bộ công cụ Netvibes, chứa mọi thông tin từ tin thời sự tới giá chứng khoán, email…



3. Zoho Suite - Ứng dụng Office trên nền web



Mặc dù Google Docs được khá nhiều người biết tới như đối thủ tiềm tàng của Microsoft Office, sản phẩm của Zoho thực sự vượt trội về mặt chức năng: từ Word, Excel, Powerpoint, Email, Chat, Wiki, hội thảo từ xa qua web… Tất cả những chức năng trên đều miễn phí chỉ với một kết nối Internet và trình duyệt bất kì.



2. Meebo - Chat bằng web



Meebo có lẽ không quá xa lạ với các chatter Việt Nam. Website này cho phép đăng nhập và chat với nhiều mạng khác nhau, từ Yahoo tới MSN, ICQ, Jabber.. mà không phần mềm chat rườm ra và nặng nề.



1. Remember the Milk - Nhắc nhở và quản lý công việc cá nhân qua web

Đứng đầu danh sách các ứng dụng web thú vị nhất là gói ứng dụng có cái tên khá ấn tượng: Remember the Milk. Với giao diện hiện đại và chức năng thuận tiện, dễ sử dụng, bạn sẽ chợt nhận ra quá trình lên kế hoạch làm việc của mình thực sự thú vị đến mức nào.

Khôi phục hệ thống bằng System Restore trong Windows (I)

Nếu phải cài lại Windows thì đó thực sự là một cơ ác mộng đối với dữ liệu cũng như những thiết lập mà bạn đã tạo ra trước đó. Với chức năng khôi phục hệ thống System Restore, hy vọng bạn sẽ giải quyết được những rắc rối xảy ra đối với hệ thống của mình.

Chức năng System Restore, hay còn gọi là tính năng khôi phục hệ thống, là một tính năng rất hữu dụng mà Windows cung cấp cho người sử dụng. Sử dụng chức năng này, bạn có thể dễ dàng đưa hệ thống trở về trạng thái tốt nhất trước đó nếu hệ thống của bạn không làm việc hoặc có vấn đề gì đó xảy ra với máy tính của mình. Điều này sẽ giúp bạn khôi phục lại hệ thống mà không cần phải cài đặt lại toàn bộ hệ điều hành, giúp bạn giữ được những dữ liệu cũng như những thiết lập trước đó.



System Restore sẽ ghi nhớ lại những thiết lập trên hệ thống tạo nên những Restore Points (mốc khôi phục). Những mốc đó sẽ đánh dấu những thiết lập có trên hệ thống vào thời điểm đó để rồi nếu vấn đề xảy ra, bạn có thể đưa hệ thống của mình trở lại những thời điểm được Restore points ghi nhận. Bởi vì quá trình lưu sao lưu hệ thống được tiến hành tự động, còn quá trình khôi phục sẽ diễn ra qua từng bước hướng dẫn, do đó tính năng System Restore là rất hữu dụng và dễ sử dụng.



Trong bài viết sau, bạn sẽ được biết cách sử dụng tính năng System Restore (khôi phục hệ thống) theo từng bước để cho phép bạn cứu hệ thống khỏi những lỗi mà nó mắc phải. Bạn cũng sẽ được hướng dẫn cách tự mình taọ nên những Restore Point (mốc khôi phục) cũng như cách sử dụng Scheduled Task để tự động tạo ra những mốc khôi phục vào một thời điểm nhất định, và làm cách nào để giải qu‎yết rắc rối nếu như quá trình khôi phục hệ thống không hoạt động.



Phần 1 : Phục hồi hệ thống trong Windows XP



Systems Restore hoạt động như thế nào?



System Restore sẽ tự động ghi nhận những thay đổi trên máy tính của bạn và tạo nên những Restore Points (mốc khôi phục) trước khi những thay đổi lớn xảy ra. Để tạo một mốc khôi phục, System Restore sẽ lưu giữ toàn bộ thông tin về Registry và những file hệ thống để tạo nên một danh sách những file cần quản lý cũng như cần phục hồi. Bạn cũng có thể tự mình tạo những mốc khôi phục vào những thời điểm tùy thích.



Ví dụ, mốc khôi phục sẽ được tạo ra trước khi một thiết bị driver của một thiết bị phần cứng được update, hoặc một phần mềm mới được cài đặt. Điều này có nghĩa, một thời điểm mà hệ thống hoàn toàn “khỏe mạnh” sẽ được ghi nhận một cách tự động mà không cần phải nhắc nhở hay chen vào quá trình làm việc của người sử dụng. Khi hệ thống của bạn gặp rắc rối, hoặc xung đột phần mềm … bạn có thể sử dụng System Restore để chuyển hệ thống của bạn trở lại trạng thái tốt nhất trước đó mà không hề mất dữ liệu cũng như những thiết lập mà bạn đã khởi tạo.



Dung lượng ổ cứng cần thiết cho quá trình khôi phục hệ thống: Để sử dụng tiện ích System Restore, bạn cần 200MB dung lượng trống trên ổ cứng. Dung lượng này được dùng để tập hợp toàn bộ dữ liệu cho những Restore Point. Nếu bạn không có nhiều dung lượng trống trên ổ cứng của mình, chức năng System Restore sẽ tự ngừng hoạt động cho đến khi bạn có đủ dung lượng trống cần thiết. System Restore sẽ tạo ra và lưu lại những Restore Points cho đến khi dung lượng trống này đã được sử dụng hết, lúc đó, nó sẽ bắt đầu viết chèn lên những Restore Points được tạo ra đầu tiên để tạo ra những điêm khôi phục mới.



200MB không phải là quá nhiều để chứa hết các Restore Points. Sử dụng nhiều dung lượng hơn cho việc này sẽ có kết quả tốt hơn. Nếu ổ cứng của bạn có dung lượng lớn cũng như bạn chưa sử dụng hết dung lượng trên ổ cứng, bạn có thể thiết lập lại dung lượng sử dụng cho chức năng này theo các bước sau :

- Đầu tiên, click Start và chọn Control Panel.

- Trong cửa sổ Control Panel, bạn chọn Performance and Maintenance, sau đó click System.

- Tại hộp thoại System Properties, bạn tìm đến tab System Restore, và sử dụng thanh trượt để tăng thêm dung lượng sử dụng, sau đó nhấn OK.



Trong trường hợp, ổ cứng của bạn có nhiều hơn một phân vùng, thì sử dụng cách sau:

- Đầu tiên, nhấn Start và chọn Control Panel.

- Tại cửa sổ Control Panel, chọn Performance and Maintenance, sau đó nhấn vào System.

- Tiếp theo, click vào phân vùng ổ đĩa mà bạn muốn quản l‎y’, sau đó nhấn nút Settings.

- Trong hộp thoại Settings, sử dụng thanh trượt để điều chỉnh lại dung lượng sử dụng cho System Restore và nhấn OK.



Chú yý rằng dung lượng ổ cứng sử dụng cho System Restore không được quá 12% tổng dung lượng còn trống của một phân vùng ổ cứng.



Lưu ý trước khi sử dụng System Restore: Tiện ích System Restore chỉ nên sử dụng sau khi đã thử các phương thức để giải quyết rắc rối xảy ra trên hệ thống. System Restores sẽ khôi phục hệ thống lại những mốc trước đó, do đó có thể sẽ khiến một số thiết lập mới nhất của bạn bị thay đổi.



Sử dụng System Restore: Nếu những cách thức giải quyết rắc rối trên hệ thống thông thường không giúp hệ thống của bạn hoạt động được như cũ, thì bạn nên quyết định sử dụng System Restore để khôi phục lại hệ thống. Đế sử dụng quá trình khôi phục hệ thống, bạn hãy đăng nhập vào máy tính theo tài khoản Administrator (đối với các máy tính có nhiều tài khỏan sử dụng), tắt toàn bộ các chương trình đang hoạt động trên hệ thống và thực hiện theo các bước sau :



- Đầu tiên, click Start -> All Programs -> Accessories -> System Tools -> System Restore.

- Tại màn hình đầu tiên, click vào Restore my Computer to an earlier time và nhấn Next.

- Trong cửa sổ tiếp theo sẽ xuất hiện một tờ lịch những ngày tháng, tại đây bạn chọn đến ngày mà bạn muốn hệ thống khôi phục lại vào thời điểm đó, và nhấn Next.






- Tại cửa sổ tiếp theo đó, bạn chọn đến mốc phục hồi mà bạn muốn sử dụng để phục hồi hệ thống của mình theo mốc đó, và tiếp tục nhấn Next.

- Sau bước này, hệ thống sẽ tự động shutdown và khởi động lại, sau khi khởi động lại xong, bạn sẽ thấy cửa sổ Restoration Complete, bạn nhấn OK để kết thúc quá trình.

pict2



Sau khi xem xét hệ thống đã được phục hồi, bạn có thể chọn lại Restore Points khác để phục hồi hệ thống, sao cho hệ thống đạt được như mong muốn của bạn. (bạn có thể thực hiện cách này theo các bước trên). Nên nhớ rằng, bạn sẽ phải cài đặt lại những phần mềm mà bạn đã cài đặt sau khi thời điểm Restore Point ghi nhận.



Nếu chức năng Restore Point không làm việc trong môi trường bình thường (Normal Mode), bạn có thể vào chế độ Safe Mode để sử dụng. Để sử dụng System Restore trong chế độ Safe Mode, bạn nhấn F8 trên bàn phím trong quá trình khởi động hệ thống, một danh sách các chế độ hoạt động của hệ thống sẽ hiện ra và bạn chọn Safe Mode. Sau khi vào Safe Mode, bạn có thể thực hiện lại các bước như trên.



Tự tạo một Restore Point (mốc phục hồi): Như trên đã nói, các mốc phục hồi sẽ được hệ thống tự động tạo ra. Tuy nhiên, nếu như trước khi bạn tiến hành một việc nào đó mà có ảnh hưởng đến hệ thống, chẳng hạn như cài đặt một phần mềm mới, thì bạn co thể tạo ra một mốc đánh dấu để sau này có thể khôi phục lại hệ thống ở chính thời điểm này, thời điểm gần bạn nhất mà hệ thống vẫn còn khỏe mạnh. Để thực hiện điều này, bạn thực hiện theo các bước sau :

- Đầu tiên, chọn Start -> All Programs -> Accessories -> System Tools -> System Restore.

- Tại màn hình đầu tiên, bạn chọn Creat a Restore Point

- Tại cửa sổ tiếp theo, bạn điền tên mô tả cho mốc khôi phục bạn muốn tạo ra và nhấn Creat.






- Quá trình sẽ xác nhận và tạo ra một mốc phục hồi cho bạn.



Điều này sẽ rất có ích cho bạn để có thể tự phục hồi hệ thống lại những thời điểm mà mình mong muốn.



Sử dụng Scheduled Tasks: Scheduled Tasks là một tiện ích kèm theo chức năng System Restore. Bạn có thể sử dụng Scheduled Tasks để tạo những mốc phục hồi vào những thời điểm nhất định. Chẳng hạn, bạn muốn tạo ra một mốc phục hồi vào lúc 6h sáng mỗi ngày, để có thể đảm bảo khôi phục lại hệ thống vào mốc phục hồi đó. Bạn có thể thiết lập Scheduled Tasks theo các bước sau :



- Đầu tiên, click Start và chọn Control Panel.

- Tại cửa sổ Control Panel, chọn Performance and Maintenance, sau đó click Scheduled Tasks và click đôi vào Add Scheduled Tasks

- Tại cửa sổ đầu tiên của quá trình, bạn click Next.

- Tại cửa sổ tiếp theo, một danh sách các ứng dụng sẽ hiện ra, click System Restore trong danh sách đó và nhấn Next.

- Bước tiếp theo, bạn thiết lập thời gian, ngày tháng để tạo mốc khôi phục. Cuối cùng nhấn Finish để hoàn thành quá trình.



Scheduled Tasks sẽ tự động bắt đầu mỗi khi Windows XP được khởi động, và quá trình này chỉ chạy ẩn bên trong hệ thống.



Giải quyết rắc rối khi sử dụng System Restore: Một số rắc rối có thể sẽ nảy sinh trong quá trình sử dụng System Restore. Những rắc rối đó có thể được giải quyết như sau :



-Không đủ 200MB dung lượng trống trên ổ cứng của bạn. Để giải quyết vấn đề này, bạn cần làm trống ổ cứng của bạn bằng cách xóa bớt đi hoặc gỡ bỏ những chương trình và file không cần thiết.



- Sau khi sử dụng quá trình khôi phục hệ thống và hệ thống được khởi động lại, nhưng hệ thống vẫn chưa được khôi phục. Bạn có thể chọn một mốc khôi phục khác và thử khôi phục lại hệ thống với mốc này.



- Quá trình khôi phục có thể từ chối nếu như bạn không sử dụng tài khoản administrator cho quá trình khôi phục. Bạn có thể giải quyết bằng cách đăng nhập vào tài khoản adminvà tiến hành lại quá trình.



- Quá trình Khôi phục hệ thống không hoạt động. Nếu gặp trường hợp này, bạn có thể giải quyết bằng cách :

+ Đầu tiên, vào Start, chọn Control Panel.

+ Tại cửa sổ Control Panel, chọn Performance and Maintenance, nhấn Administrator Tools.

+ Tại cửa sổ Administrator Tools, click đôi vào Computer Manager, tiếp theo click vào Services and Applications, rồi click vào Services và click đôi vào System Restore Services từ danh sách hiện ra.

+ Tiếp theo, tại cửa sổ System Restore Services Properties, trên tab General điều chỉnh Startuptype thành Automatic và nhấn OK.





Bây giờ, bạn đã có thể tự tạo cho mình những mốc riêng để có thể khôi phục hệ thống trở lại những mốc đó nếu như hệ thống gặp vấn đề. Tuy nhiên, cách tốt nhất để không có vấn đề gì xảy ra với hệ thống của bạn đó là luôn bảo vệ hệ thống trước những hiểm họa như Virus, Spyware … và chọn đúng những thiết bị phần cứng tương thích với máy tính cũng như với hệ thống.



Ở phần sau, chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu với bạn cách sử dụng chức năng khôi phục hệ thống đối với Windows Vista.

Kiểm soát danh sách Startup dễ dàng qua Quick Startup

Quá trình cài đặt-gỡ cài đặt phần mềm khỏi hệ thống không phải lúc nào cũng suôn sẻ: đôi khi phần mềm đã được gỡ bỏ vẫn lưu lại dấu vết, khiến quá trình khởi động máy tính ngày càng nặng nề chậm chạp, và cần công cụ “chuyên dụng” giải quyết chúng.

Phần mềm được thiết kế cẩu thả thường để sót khoá registry, hoặc các file trong quá trình sử dụng tồn tại trên máy, khiến Windows tự động tìm và khởi chạy các file đó mỗi lần khởi động máy. Tất nhiên những file đó không thể sử dụng được, và quá trình khởi động có khi kéo dài đến cả phút đồng hồ. Các phần mềm độc hại là trường hợp điển hình khác: chúng thường cài thêm hàng tá “thứ linh tinh” vào máy mà không cần người sử dụng cho phép, và tất nhiên những “thứ linh tinh” đó sẽ chạy khi máy tính khởi động.



Quick Startup là công cụ miễn phí giúp bạn kiểm tra các ứng dụng khởi động cùng Windows. Có tính năng tương tự MSConfig của Windows nhưng tiện dụng & trực quan hơn rất nhiều, phần mềm cho phép bạn kiểm tra độ tin cậy của một ứng dụng nhất định, giới hạn hoặc cấm ứng dụng đó hoạt động. Startup còn có thể “lên lịch” hoạt động cho các ứng dụng đó: khởi chạy vào một ngày nhất định trong tuần, hoặc chỉ một lần duy nhất.





Sau khi download và cài đặt, bạn sẽ thấy phần mềm có giao diện khá trực quan, với menu chính là danh sách các ứng dụng khởi động cùng Windows. Vạch màu hiển thị độ tin cậy của ứng dụng: càng lệch về phía đỏ càng nguy hiểm. Bạn có thể nhấn vào “More information” ở ô “Details” dưới cùng màn hình để tìm hiểu thêm thông tin do người dùng khác cung cấp (bằng tiếng Anh). Cũng tại menu danh sách này, bạn cấm các phần mềm khởi động bằng việc bỏ chọn dấu tích cạnh tên chúng.



Trong bảng Tasks, “Disable this entry” sẽ xoá hoàn toàn một ứng dụng khỏi danh sách khởi động, “Add Program..” đưa phần mềm bất kì vào danh sách. Bảng Other Autorun cho phép bạn lên “lịch làm việc” (Scheduled task) cho các ứng dụng hoặc kiểm tra danh sách Service của Windows.



Quick Startup phiên bản 2.3 hoàn toàn miễn phí, download tại đây.

MPlayer Portable: Xem video không cần cài đặt

Bạn có muốn một chương trình miễn phí có thể chơi được toàn bộ các định dạng Video, từ thông dụng đến xa lạ? Bạn có muốn sử dụng một chương ở bất cứ đâu, thậm chí ngay trên cả các thiết bị lưu trữ di động như USB, bởi vì nó không cần phải cài đặt? Kết hợp 2 điều trên, bạn sẽ có được một chương trình hoàn hảo MPlayer Portable.

Ngày nay, thời đại của công nghệ số, chắc hẳn là ai cũng muốn những ứng dụng quan trọng nhất mà người sử dụng cần đến như các chương trình duyệt web, thư điện tử, anti-virus, biên tập ảnh , chat, soạn thảo văn bản, nghe nhạc, lưu trữ, quản lý file và cả game nữa… đều sẵn sàng và có thể luôn bên bạn ở mỗi máy tính, không cần thay đổi thiết lập mà vẫn đảm bảo chất lượng ổn định và tương đương nếu chúng được cài đặt vào PC.



Tuy nhiên, để tìm được một phần mềm ưng ý đáp ứng được nhu cầu của bạn, thì bạn sẽ gặp một rắc rối không nhỏ : đó là vấn đề thu phí bản quyền sử dụng. Nếu không muốn bỏ tiền ra mua, bạn có thể sử dụng những phiên bản dùng thử, nhưng với một phiên bản dùng thử thì các tính năng của nó sẽ bị hạn chế đi rất nhiều, hoặc số ngày sử dụng sẽ rất ít. Do đó, một loại phần mềm mới ra đời để giải quyết vấn đề trên, đó là các phần mềm dạng Portable.



Phần mềm dạng Portable là phần mềm không cần cài đặt và chỉ có 1 file duy nhất để chạy, do đó chúng hoàn toàn miễn phí, nhưng tính năng và sức mạnh của nó thì lại không hề thua kém gì các chương trình có thu phí khác.



Trong lĩnh vực giải trí, thông thường, bạn sử dụng tiện ích Windows Media Player đi kèm theo Windows để co thể nghe nhạc và xem video. Tuy nhiên, nêu như một ngày nào đó, bạn bè gửi cho bạn 1 file có định dạng của DVD hay RealPlayer, thì hoặc là bạn phải tìm thêm 1 phần mềm khác có thể coi được những địnhdạng này, hoặc là bạn phải cài thêm codec cho Windows Media Player và phải chấp nhận nguy cơ máy tính bị nhiễm Spyware từ những codec đó. Vậy cái bạn cần là một chương trình có thể xem toàn bộ những định dạng video.



Kết hợp 2 điều trên, 1 chương trình miễn phí dạng Portable, và một chương trình xem video hoàn hảo, bạn sẽ có được 1 chương trình đáng ứng được cả 2 yêu cầu trên: MPlayer Portable.






Với giao diện đơn giản cho phép bất cứ người dùng nào cũng có thể dễ dàng sử dụng. Cơ bản là bạn chỉ cần chọn file và MPlayer sẽ làm nốt phần còn lại. Nói chung là chẳng có vấn đề gì với định dạng file vì chương trình có thể đọc được hầu hết các định dạng file cơ bản như MPEG/VOB, AVI, OGG/OGM, ASF/WMA/WMV, QT/MOV/MP4, RM , thậm chí cả MKV. Nếu bạn định chạy những định dạng khác thì bạn sẽ phải cài đặt những bộ codec phù hợp.

Thanh menu hiển thị trên phần đầu giao diện của chương trình cho phép nhiều kiểu tùy chọn khác nhau để xem video. Mplayer Portable rất linh hoạt, có thể nén file làm cho dung lượng của file đó chỉ bằng một nửa so với ban đầu.


Tùy chọn cách thức chơi các file video cũng là một thế mạnh của Mplayer Portable, không chỉ bao gồm những chức năng thông thường như play, pause và stop, mà có thêm cả chế độ nâng cao như xem lướt video theo từng phút (hay 10 phút một lần) hay nhảy cách 10 giây một lần. Mỗi chức năng của ứng dụng đều có phím tắt để dễ dàng sử dụng hơn. Tuy nhiên, có một vấn đề khá lớn là bạn không thể kéo thanh seek đến điểm cần thiết và để tua file đang chơi đến đoạn cần chọn. Việc này là một nhược điểm lớn của chương trình và cách tốt nhất để tiến hay lùi là quay lại từ đầu và chuyển đến điểm lựa chọn bằng các chức năng tua nhanh file như đã nói ở trên. Một nhược điểm khác là chương trình không hiển thị thời gian của video đang được chạy.




Tools menu sẽ cho phép người dùng sử dụng rất nhiều tiện ích đặc biệt của chương trình để định dạng chương trình và chọn bài hát hay phụ đề ưa thích (nếu có) cũng như đặt tương quan tỉ lệ màn hình, chọn hay bỏ chức năng trộn âm và có có thể hiển thị cả thông tin về clip. Thực đơn này cũng mở đến hộp thoại MPlayer Options và thay đổi ngôn ngữ sử dụng.



Với hệ thống các phím nóng tương ứng với mỗi tính năng của chương trình, bạn chỉ cần vài động tác đơn giản là đã có thể điều chỉnh các tùy chọn của chương trình sao cho ưng ý nhất.




Đặc biệt MPlayer là movie player với đầy đủ tính năng có thể đọc được toàn bộ những định dạng file thông dụng cũng như ít gặp nhất. Sau đây là những định dạng file được chương trình hỗ trợ : MPEG/VOB, AVI, Ogg/OGM, VIVO, ASF/WMA/WMV, QT/MOV/MP4, RealMedia, Matroska, NUT, NuppelVideo, FLI, YUV4MPEG, FILM, RoQ, PVA


Một số ưu điểm của chương trình:



Trước hết, là một chương trình Portable, nó miễn phí và không cần phải cài đặt, do đó có thể sử dụng trực tiếp ngay trên các thiết bị bộ nhớ di động, như usb, thẻ nhớ hay iPod, rất thuận tiện. Thêm nữa, bởi vì không cần cài đặt nên nó không hề để lại dấu vết nào trên máy tính và chạy được mọi định dạng video thông dụng.

Tuy nhiên, chương trình lại có một số nhược điểm sau: Có vài vấn đề như không hỗ trợ thực đơn DVD hay lướt qua các track. Cách duy nhất để biết được thời gian là vào thực đơn Tools và "Show clip information option". Thanh seek không hiển thị thời gian chạy và bạn không thể kéo thanh slider để kéo thời gian chơi (bạn chỉ còn cách là sử dụng chức năng nhảy cách 10 phút một lần).

Tuy nhiên ngoại trừ những thiếu sót trên, Mplayer Portable thực sự là một chương trình media player rất tốt. Nếu bạn tính đến chuyện nó mới chỉ ở giai đoạn RC, nó thực sự là một sự thay thế đầy hứa hẹn cho phần lớn các chương trình xem video trên thị trường. MPlayer Portable là người bạn tốt với ổ đĩa di động của bạn và nó cơ bản là có thể chơi được mọi loại video thông dụng. Nó không cần nhiều mã vì nó chạy khá tốt với những thứ sẵn có của mình. Mặc dù ứng dụng này vẫn cần hoàn thiện hơn và sửa lại một vài tính năng nhược điểm của mình, nhưng hiện tại, nó đã làm rất tốt nhiệm vụ của mình.



Download chương trình miễn phí tại đây.